Câu hỏi: Tôi có vấn đề cần được tư vấn như sau: Ngày 2.5 tôi có điều khiển xe ô tô tải biển số:..... vi phạm: kiểm định hết hạn trên 1 tháng và không có giấy đăng ký xe và bị Cảnh sát giao thông lập biên bản với 2 lỗi vi phạm như trên. Ngày 11.5 tôi ủy quyền cho người khác đến xử lý vi phạm, xuất trình giấy phép lái xe của tôi và giấy đăng ký xe thế chấp ngân hàng nhưng đã hết hiệu lực và nhận quyết định xử phạt với lỗi vi phạm: Kiểm định hết hạn trên 1 tháng, sử dụng giấy đăng ký xe đã hết hạn sử dụng, tước giấy phép lái xe 2 tháng, người được ủy quyền của tôi đã nhận quyết định xử phạt nhưng chúng tôi chưa đóng phạt. Xin luật sư giải đáp giúp tôi nhưng vấn đề sau:
1/ Ngày ra quyết định xử phạt mà lãnh đạo công an ký là ngày 11.5 có đúng không? (Có quyết định gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt).
2/ Việc cơ quan chức năng tạm giữ xe tôi từ ngày 2.5 đến nay là ngày 11.5 vẫn chưa trả có đúng không?
3/ Việc tôi ủy quyền người khác đến giải quyết có đúng quy định không? và cơ quan chức năng yêu cầu người được tôi ủy quyền ký vào mục người chứng kiến trong biên bản vi phạm hành chính phạt chủ phương tiện là đúng hay sai? nhưng người được tôi ủy quyền không đồng ý ký có đúng không?
4/ Làm thế nào để tôi được nhận lại phương tiện mà khi chưa thi hành quyết định xử phạt?
5/ Người đứng tên trong giấy đăng ký xe là 1 công ty...., nhưng công ty đó có làm giấy ủy quyền lại cho 1 cá nhân với nội dung cá nhân đó có quyền mua bán sang tên sử dụng...... thì việc xử phạt đối với chủ phương tiện là xử phạt tổ chức đứng tên trong giấy đăng ký hay xử phạt cá nhân được công ty đó ủy quyền?
6/ Biên bản vi phạm hành chính phạt chủ phương tiện nếu chưa có chữ ký của tài xế là người chứng kiến và chủ xe ký mà chỉ có 1 người dân ký chứng kiến thì có ra quyết định xử phạt được không?
7/ Mình hỏi thêm 1 câu nữa là: mình làm đơn xin hoãn thì hành quyết định xử phạt, vậy trong thời gian được hoãn mình có được làm đơn khiếu nại quyết định đó hay không? nếu được hay không được thì quy định ở đâu?
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính:
Tại Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 có quy định về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính như sau:
“1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.
…”
Căn cứ theo quy định nêu trên thì thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính. Với vụ việc có tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày kể từ ngày lập biên bản.
Đối chiếu với trường hợp của chị, từ ngày lập biên bản vi phạm là ngày 2/5 đến ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là ngày 11/5, cách nhau 10 ngày, vẫn trong thời hạn tối đa 30 ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, về thời hạn tạm giữ phương tiện và vấn đề trả lại phương tiện:
Theo thông tin chị cung cấp, chị vi phạm hai lỗi đó là kiểm định hết hạn trên 01 tháng và sử dụng giấy đăng ký xe đã hết hạn sử dụng, đối với các lỗi này không bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu phương tiện mà chỉ áp dụng hình thức phạt tiền và tước giấy phép lái xe. Do đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 6 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 10 Điều này.
Về thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính được quy định cụ thể tại Khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, theo đó thời hạn tạm giữ phương tiện được quy định như sau:
“8. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.”
Căn cứ theo quy định nêu trên thì cơ quan có thẩm quyền được tạm giữ phương tiện trong thời hạn 07 ngày, tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày tạm giữ phương tiện để đảm bảo người vi phạm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Với trường hợp của chị, cơ quan có thẩm quyền có thể tạm giữ phương tiện để đảm bảo chị thực thi quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 125 và Khoản 2 Điều 126 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì chị được trả lại phương tiện của mình ngay sau khi thi hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, nếu chị chưa thi hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyền chưa trả lại phương tiện cho chị đến khi nào chị thực hiện xong quyết định xử phạt.
Thứ ba, về vấn đề ủy quyền
* Về ủy quyền của chị cho người khác giải quyết các vấn đề liên quan đến xử phạt hành vi vi phạm
Hiện nay, việc ủy quyền để người khác thay mặt mình giải quyết các vấn đề liên quan đến vi phạm giao thông tại cơ quan có thẩm quyền không thuộc các trường hợp pháp luật cấm do đó, chị có quyền ủy quyền cho người khác để người được ủy quyền thay mặt mình giải quyết các vấn đề này.
Căn cứ vào nội dung ủy quyền các bên đã lập để xác định vai trò của người nhận ủy quyền trong quá trình giải quyết vụ việc này. Nếu nội dung ủy quyền ghi nhận rõ người nhận ủy quyền được toàn quyền thay mặt chị giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính tại cơ quan có thẩm quyền thì có căn cứ để xác định người nhận ủy quyền được quyền ký vào phần người vi phạm thay cho chị. Trong trường hợp này, không có căn cứ để ghi nhận người nhận ủy quyền là người chứng kiến, do đó người nhận ủy quyền không ký vào phần người chứng kiến không vi phạm quy định của pháp luật.
* Về ủy quyền giữa người đứng tên trên giấy đăng ký xe là công ty và cá nhân
Tại Điều 562 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về ủy quyền như sau: “Ủy quyền sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Đối chiếu với trường hợp của chị thì trong nội dung ủy quyền ghi nhận người nhận ủy quyền có quyền mua bán, sang tên, sử dụng… thì chị có quyền thay mặt chủ sở hữu quyết định các vấn đề liên quan đến mua bán, sang tên, sử dụng… tài sản này theo nội dung đã ủy quyền. Tuy nhiên, chủ sở hữu đối với chiếc xe trong trường hợp này vẫn được xác định là công ty. Do đó, nếu lỗi vi phạm có xử phạt chủ sở hữu phương tiện thì cơ quan có thẩm quyền có quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ sở hữu phương tiện là công ty.
Thứ tư, về lập biên bản vi phạm hành chính:
Tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 có quy định về lập biên bản vi phạm hành chính như sau:
“2. Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình.
Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.
3. Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản.”
Căn cứ theo các quy định nêu trên có thể thấy tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nếu người vi phạm không ký vào biên bản vi phạm thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.
Với trường hợp của chị, nếu tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính người vi phạm, chủ phương tiện không ký vào biên bản và chỉ có chữ ký của một người chứng kiến thì việc lập biên bản này không phù hợp với quy định của pháp luật liên quan đến lập biên bản vi phạm hành chính như đã nêu trên.
Biên bản vi phạm hành chính là văn bản ghi nhận lại nội dung vi phạm của người thực hiện hành vi vi phạm, là căn cứ để người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, nếu biên bản vi phạm hành chính được lập không phù hợp với quy định thì việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là chưa phù hợp trong trường hợp này.
Thứ năm, về khiếu nại quyết định xử phạt vi phạm hành chính:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại 2011 thì: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.”
Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên nếu chị không đồng ý với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan có thẩm quyền và chị có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì chị có quyền khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Hiện nay, theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính không có quy định trong thời hạn hoãn thi hành quyết định phạt tiền thì người vi phạm có được thực hiện quyền khiếu nại hay không. Tuy nhiên, xét theo quy định tại Luật khiếu nại đã nêu trên chúng tôi xác định trường hợp này vẫn có căn cứ để chị gửi đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp chị được hoãn chấp hành hình phạt tiền.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: