Nội dung câu hỏi: Anh trai em và chị dâu kết hôn được 8 năm, có một con chung 5 tuổi. Trước khi kết hôn, anh em đã tự lập và có khối tài sản riêng nhờ kinh doanh lúa gạo. Sau đó mới cưới chị dâu, và trước đó anh cũng từng có một đời vợ cùng ba người con.
Sau khi kết hôn, anh không chỉ nuôi vợ mà còn chăm lo sinh hoạt và chu cấp cho cả gia đình bên vợ, việc này ai cũng biết. Đến khoảng 2 năm sau, do làm ăn thua lỗ và bị đối tác ở Campuchia lừa nên anh bị vỡ nợ. Lúc đó, chị dâu đã ôm con về nhà mẹ đẻ và ở đó cho đến nay.
Khoảng 2 năm trở lại đây, anh trai em tích góp, vừa trả nợ vừa dành dụm được chút ít để mua nhà và xe hơi, đứng tên chung cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, từ khi ôm con về nhà mẹ, chị dâu không làm tròn trách nhiệm của người vợ, không ở bên chăm sóc hay gánh vác cùng anh, chỉ yêu cầu mỗi tháng đưa tiền ăn dao động từ 15–40 triệu. Vì thương con nên anh không tính toán, cũng không ép buộc chị làm gì. Nhưng hiện nay chị thường xuyên đi chơi, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đều muốn ly hôn.
Em muốn biết nếu ly hôn thì tài sản và nợ sẽ được tính thế nào. Hiện tại, nhà và xe đều đang vay thế chấp ngân hàng, còn khoản nợ là do làm ăn để nuôi gia đình.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:
.jpg)
Thứ nhất, với việc phân chia tài sản
Tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:
“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Căn cứ theo quy định nêu trên thì khi ly hôn nếu có tranh chấp về phân chia tài sản thì theo yêu cầu của một bên hoặc hai bên Tòa án sẽ tiến hành phân chia tài sản của vợ chồng dựa trên nguyên tắc tài sản chung chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như công sức đóng góp, lỗi của các bên,... Tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó.
Đối chiếu với trường hợp của chị, để xác định việc phân chia tài sản trong trường hợp này cần xác định các tài sản chị liệt kê là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hay tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Tại Điều 33, Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ, chồng theo đó có thể hiểu tài sản chung của vợ chồng là các tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, tài sản do vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung hoặc các tài sản khác do vợ chồng cùng thỏa thuận là tài sản chung.
Tài sản riêng là các tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản có được sau khi vợ chồng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Theo thông tin chị cung cấp, căn nhà và chiếc xe đều được anh chị mua trong thời kỳ hôn nhân và đứng tên chung của hai vợ chồng do đó theo quy định tại Điều 33, Điều 43 nêu trên thì có căn cứ xác định các tài sản này đều là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Khi ly hôn, vẫn có căn cứ để người vợ yêu cầu phân chia đối với các tài sản này. Anh trai chị có thể đưa ra các chứng minh việc mua các tài sản này có sử dụng tiền do mình có được trước thời kỳ hôn nhân để đề nghị Tòa án xem xét phân chia để bảo đảm quyền lợi của mình. Việc người vợ không có thu nhập nhưng người vợ ở nhà chăm sóc, nuôi dưỡng con cũng được xác định là có công sức đóng góp trong việc tạo lập tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Tuy nhiên, theo thông tin chị cung cấp, các tài sản này đang được thế chấp tại ngân hàng do đó việc phân chia các tài sản này có thể bị hạn chế do tài sản đang được sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ với bên thứ ba. Trường hợp này để được phân chia tài sản thì phải được sự đồng ý của ngân hàng hoặc anh chị của chị phải thanh toán khoản nợ tại ngân hàng, giải chấp và lấy lại tài sản thì mới có căn cứ thực hiện phân chia tài sản khi ly hôn.
Thứ hai, về nghĩa vụ trả nợ:
Tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Căn cứ theo quy định nêu trên, để xác định chị dâu chị có nghĩa vụ đối với khoản vay của anh chị hay không cần phải làm rõ khoản vay của anh chị là khoản vay sử dụng cho mục đích gì? Khi vay có chữ ký của chị dâu hay không? Nếu khoản vay của anh chị là các khoản vay tại ngân hàng, có chữ ký của chị dâu chị trên hợp đồng vay thì cả hai vợ chồng phải cùng có nghĩa vụ trả nợ. Nếu các khoản vay do anh trai chị tự ký tên nhưng anh chị chứng minh được khoản vay này phục vụ cho mục đích kinh doanh để tạo ra thu nhập chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc vay phục vụ cho mục đích thiết yếu của gia đình như ăn ở, học tập, chữa bệnh, xây dựng nhà cửa chung… thì có căn cứ để yêu cầu người vợ cùng có nghĩa vụ liên đới trả khoản vay này với người chồng. Trong trường hợp đã có căn cứ xác định đây là nghĩa vụ nợ chung của vợ chồng thì sau khi đã ly hôn anh trai và chị dâu chị vẫn có nghĩa vụ cùng trả nợ đối với khoản nợ chung này.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: