Xử lý hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục và phát tán hình ảnh nhạy cảm

Xử lý hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục và phát tán hình ảnh nhạy cảm

2026-04-05 21:00:34 2

Nội dung chị yêu cầu tư vấn: Gần đây em có quen 1 anh bạn trên mạng online và có gửi một số hình ảnh nhạy cảm cho anh ta, sau đó em không liên lạc nữa. Anh ta có gọi điện cho em nhiều lần và nhắn tin nhưng em không phản hồi lại. Gần đây, do em không phản hồi thì anh ta có nhắn cho em một tin nhắn là “anh post clip của em lên mạng nhé”. Anh ta nói em không nhớ à. Lúc trước anh call em anh đã quay lại màn hình rồi. Sau đó, anh ta có đe doạ muốn em làm nô lệ tình dục và ép quan hệ tình dục với anh ta. Nếu không anh ta sẽ đăng clip lên mạng xã hội. Anh ta yêu cầu nếu sau có lấy chồng có bầu vẫn phải đáp ứng quan hệ tình dục theo hứng thú của anh ta. Hiện tại em cũng không có thông tin gì của anh ta ảnh, sdt hay địa chỉ hiện tại em đều không có. Anh ta đang đi công tác và có nói giữa tháng 6 về sẽ hẹn gặp em. Hiện tại để kéo dài thời gian nên em có đồng ý hẹn gặp trước để lấy thông tin cũng như quay chụp lại hình ảnh. Nhưng điều em lo nếu gặp anh ta sẽ ép em quan hệ vậy có cấu thành tội cưỡng dâm và phát tán hình ảnh của cá nhân không ạ.

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

I. VỀ VIỆC DÙNG HÌNH ẢNH, CLIP NHẠY CẢM ĐỂ ÉP CHỊ QUAN HỆ TÌNH DỤC

Căn cứ tại Điều 143 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội cưỡng dâm như sau:

1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Đối chiếu với thông tin chị cung cấp, người đàn ông nhắn tin với chị đã có hành vi đe dọa rằng sẽ đăng những hình ảnh, clip nhạy cảm của chị lên các trang mạng xã hội nếu chị không đồng ý quan hệ tình dục. Hành vi này khiến cho chị rơi vào tình trạng lo lắng, sợ hãi rằng những thông tin đời tư của mình sẽ bị công bố công khai và phải miễn cưỡng chấp nhận giao cấu với người đàn ông đó. Tuy nhiên, hiện tại thì tất cả những hành vi đe dọa đều thông qua tin nhắn và hai người chưa gặp nhau, chưa xảy ra việc cưỡng ép quan hệ tình dục trực tiếp nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng dâm.

Trong thời gian tới có thể chị và anh ta sẽ gặp nhau, nếu như người đàn ông này tiếp tục dùng hình ảnh, clip nhạy cảm của chị để đe dọa, ép chị thực hiện việc quan hệ tình dục thì có đủ căn cứ để xác định đã cấu thành tội cưỡng dâm, người đàn ông sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng dâm theo quy định tại Điều 143 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.    

Tình huống này để bảo vệ mình và kịp thời ngăn chặn hành vi xâm hại của người đàn ông kia, nếu anh ta tiếp tục đe dọa và yêu cầu gặp mặt thì chị cần trình báo cơ quan công an để có hướng giải quyết, bảo vệ bản thân và có chế tài xử lý đối với hành vi phạm tội của người đàn ông này.

II. VỀ ĐĂNG TẢI CÔNG KHAI HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI KHÁC

Về hình ảnh của cá nhân được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự, cụ thể tại Điều 32 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

“Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.”.

Như vậy, theo quy định nêu trên thì mỗi cá nhân đều có quyền đối với hình ảnh của mình, việc sử dụng hình ảnh của người khác phải được người đó đồng ý. Đối với trường hợp của chị, nếu người đàn ông kia có hành vi tự ý sử dụng hình ảnh của chị đăng tải công khai được xác định là hành vi vi phạm pháp luật.  

Trường hợp này, chị hoàn toàn có quyền trình báo đến cơ quan công an để tiến hành xem xét xử lý, tùy vào tính chất, mức độ, động cơ mục đích và hậu quả của hành vi vi phạm mà người thực hiện hành vi có thể vị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự.

Về việc xử phạt hành chính, người có hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm mục đích xúc phạm danh sự, nhân phẩm của người khác thì có thể bị xử phạm từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP như sau:

“Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hộI

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;

b) Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;

c) Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn;

d) Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong Nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc;

đ) Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;

e) Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm;

g) Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia;

h) Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.”.

Trường hợp hành vi xúc phạm gây ảnh hưởng mang tính chất nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự 2015:

“Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

…”.

Đối với trường hợp của chị, nếu người đàn ông đăng tải công khai hình ảnh của chị thì chị nên trình báo cơ quan công an để xác định hành vi vi phạm và xem xét xử lý theo quy định pháp luật. 

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Từ khóa:  cưỡng dâm

,  

phát tán ảnh nhạy cảm

,  

,  

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi