Xác định tội danh trong vụ án gây thương tích trên 81%

Xác định tội danh trong vụ án gây thương tích trên 81%

2025-12-23 10:08:24 41

Mấy tháng trước có 1 đám người đông, gồm nhiều độ tuổi khác nhau, ngồi nhậu với nhau tại quán nhậu, đám nhậu này gây lộn đánh nhau và chạy vào nhà chúng tôi, Ba chúng tôi lúc đó đang ở nhà, nghe và nhìn thấy đông người đánh nhau chạy vào nhà chúng tôi, Ba chúng tôi đi ra để can ngăn, trong lúc can ngăn ba tôi đã cầm cây gậy không may đánh vào anh Minh làm anh Minh bị thương. Gia đình anh Minh đòi ba tôi bồi thường 3 tỷ, nếu không đưa cho họ 3 tỷ thì họ kiện ba tôi. Gia đình tôi không có đủ 3 tỷ đưa cho họ, nên ba tôi đã bị kiện. Hiện nay Ba tôi đã bị bắt tạm giam tại trại giam. Chúng tôi có thuê luật sư và có đến công an để xin xem hồ sơ nhưng không được, họ nói ba tôi phạm tội giết người, với giấy giám định thương tật của Viện Pháp Y Quốc Gia là 89% thương tật.

Xin cho tôi hỏi ba tôi phạm tội gì? và giờ chúng tôi phải làm gì cho ba tôi?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ những thông tin, tình tiết và dữ kiện mà chị cung cấp thì trong trường hợp này ba của chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi một trong các tội danh sau:

Thứ nhất: Tội giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự.

“Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”

Đối với tội danh này, người phạm tội phải có hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật. Các hành vi nhằm tước đoạt tính mạng người khác thông thường gây hậu quả trực tiếp là làm nạn nhân chấm dứt sự sống. Tuy nhiên, chỉ cần hành vi mà người phạm tội đã thực hiện có mục đích là chấm dứt sự sống của nạn nhân thì được coi như đã cấu thành tội phạm giết người, dù hậu quả chết người có xảy ra hay không. Hành vi giết người khác với hành vi cố ý gây thương tích ở chỗ người phạm tội cố ý tác động vũ lực vào những điểm trọng yếu trên cơ thể của nạn nhân như: vùng đầu, vùng cổ, vùng ngực, vùng bụng. Đây đều là những điểm xung yếu trên cơ thể con người, có khả năng dẫn đế tử vong cao vì vậy mà pháp luật nghiêm cấm tuyệt đối và xem đây là một hành vi giết người chứ không phải là cố ý gây thương tích. Do đó, trong trường hợp nếu ba chị dùng gậy đánh vào những điểm trọng yếu trên cơ thể của anh Minh thì ba chị hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người và đây cũng là tội danh nặng nhất đối với hành vi của ba chị.

Thứ hai: Tội cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật Hình sự

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy him hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

đ) Có tổ chức;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

…”

Theo kết quả giám định thương tật của Viện Pháp Y Quốc Gia, tỷ lệ thương tật của anh Minh là 89%. Tuy nhiên, cũng cần xác định hành vi cố ý gây thương tích dựa vào mức độ tấn công với cường độ mạnh hay yếu cùng với vị trí tấn công trên cơ thể nạn nhân. Nếu cường độ tấn công không mạnh và những vị trí tấn công không xung yếu, không nhằm tước đi sinh mạng của nạn nhân thì khi đó sẽ không xác định là hành vi giết người mà là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác. Như vậy, nếu ba chị có hành vi cố ý dùng gậy đánh nạn nhân gây ra hậu quả thương tật như trên thì ba chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

Thứ ba: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Hình sự.

Đối với tội danh này người thực hiện hành vi phạm tội phải có đủ cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ, mức độ cần thiết phải phòng vệ và có căn cứ cho rằng hành vi tấn công của đối phương đang hoặc sẽ ngay tức khắc gây nguy hiểm cho bản thân mình. Trong trường hợp này, theo thông tin mà chị cung cấp, có một đám người ngồi nhậu ở quán, gây lộn đánh nhau sau đó đột nhiên xông vào nhà chị. Ba chị đã can ngăn nhưng không thành, trong lúc xô xát ba chị đã dùng gậy đánh anh Minh bị thương. Như vậy, nếu trường hợp ba chị dùng gậy để tự vệ trước các hành vi hung hãn của các đối tượng xông vào nhà chị đánh nhau, rồi đánh cả người can ngăn là ba chị, thì trong trường hợp này đã phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, để chứng minh được hành vi gây thương tích cho anh Minh chỉ là phòng vệ chính đáng thì ba chị cần phải đưa ra được chứng cứ, chứng minh được sự cần thiết phải dùng gậy để trấn áp sự hung hãn của anh Minh và các hành vi của anh Minh mà ba chị cho rằng nếu không chống trả sẽ đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của mình. Trong trường hợp này, thì ba chị chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Với tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Minh là từ 61% trở lên thì ba chị có thể bị xử phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm theo điểm b khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự.

Thứ tư: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

“Điều 138. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.”

3. Phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.”.

Với dữ liệu mà chị cung cấp, chúng tôi thấy rằng khả năng rơi vào tội danh này là thấp mặc dù chị cho rằng ba chị “không may” cầm gậy đánh trúng vào người anh Minh. Để chứng minh được hành vi của mình là vô ý thì trong quá trình xảy ra xô sát hành vi dùng gậy của ba chị phải không nhắm tới bất cứ mục tiêu nào mà chỉ để tự vệ. Điều này là rất khó, bởi vì đặt trong bối cảnh xảy ra xô sát như trường hợp này thì nếu cho rằng hành vi của ba chị là vô ý do chủ quan hay vô ý do cẩu thả cũng đều khó được chấp nhận.

Như vậy, với những thông tin, dữ liệu mà chị cung cấp thì chúng tôi chỉ có thể dự kiến được các tội danh mà ba chị có thể bị xử lý chứ không xác định được chính xác tội danh. Điều này phụ thuộc vào quá trình điều tra, chứng cứ mà cơ quan chức năng thu thập được từ vụ việc. Do đó, khi chưa có kết luận điều tra, gia đình chị phải thật sự bình tĩnh, không nóng vội. Trong thời gian này, gia đình chị nên chủ động thu thập các tài liệu, chứng cứ có lợi cho ba chị và có quyền thuê luật sư để tham gia bào chữa nhằm có giải pháp pháp lý tốt nhất cho ba của chị.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Theo thông tin vụ việc, ba chị là người gây thương tích cho anh Minh, do đó phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại điều 584 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 584 quy định như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. …”

Căn cứ quy định tại điều 590 Bộ luật dân sự 2015 các khoản mà ba chị  phải bồi thường bao gồm:

+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại. Trường hợp này sẽ căn cứ chi phí khám chữa bệnh thực tế của anh Minh trong quá trình điều trị.

+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại.

+ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

+ Ngoài ra, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thêm một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm hiện tại là 1.490.000 đồng.

Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, thực hiện theo quy định tại điều 585 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần. Đồng thời, nếu ba chị đã thừa nhận hành vi gây thương tích cho anh Minh, thì gia đình chị chủ động liên hệ bị hại thực hiện việc bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc nêu trên. Việc bồi thường thiệt hại giai đoạn này là căn cứ xem xét được hưởng 1 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

3. Các nội dung khác:

Về quyền của Luật sư bào chữa trong giai đoạn điều tra, tại khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về quyền của người bào chữa như sau:

“Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa

1. Người bào chữa có quyền:

a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;

b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;

c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;

đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;

g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;

l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;

m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.”

Như vậy, theo quy định tại điểm l khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì trong giai đoạn điều tra, người bào chữa không có quyền được đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án. Đây được xem là những tài liệu thuộc về bí mật điều tra, cũng như các nghiệp vụ điều tra của cơ quan chức năng. Do đó, người bào chữa chỉ có quyền sao chụp hồ sơ, sao chụp tài liệu khi kết thúc giai đoạn điều tra. Tuy nhiên, với vai trò của Luật sư bào chữa, trong giai đoạn này có thể tiếp cận, đề nghị cung cấp thông tin về tình trạng của bị can nhằm phục vụ cho việc bào chữa (Các quyết định: khởi tố, tạm giam, tạm giữ, gia hạn điều tra, giám định ....)./.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi