Nội dung yêu cầu tư vấn: Kính thưa luật sư tôi có một số vấn đề muốn trình bày và muốn luật sư tư vấn giúp tôi để khi ra tòa ly dị đúng pháp luật và đảm bảo được quyền lợi của đôi bên.
Tôi xin trình bày vắn tắt như sau: Trong thời gian hôn nhân từ năm 2015 đến nay chúng tôi có hai con chung với nhau, một con gái sinh ngày 20/7/2021 và một con trai tên là: 01/10/2024. Tôi làm việc gần nhà còn vợ tôi làm việc xa nhà, con cái ở nhà với tôi, mọi chi tiêu trong gia đình, việc lớn việc nhỏ gì cũng một mình tôi lo liệu, vợ tôi không đóng góp gì, cuối tuần vợ tôi về có vài lần mua tả sửa cho con còn lại thì bản thân tôi tự lo liệu. Cuộc sống vợ chồng tôi có nhiều mâu thuẫn và rạn nứt không thể hàn gắn được. Vì vậy trước khi ra tòa ly dị tôi muốn luật sư tư vấn cho tôi rỏ một số vấn đề về Luật hôn nhân gia đình và tôi muốn luật sư tư vấn cho tôi bằng văn bản để tôi làm cơ sở khi ra tòa để đảm bảo được quyền lợi của mình.
Tôi có một số vấn đề cần trình bày như sau:
1. Trong thời gian hôn nhân, năm 2016 UBND Huyện có cấp cho tôi một lô đất, tôi có mượn tiền của chị tôi nộp thuế đất tổng là 65 triệu. (Lô đất đó đứng tên tôi)
2, Năm 2017, trên đường đi làm tôi có va chạm giao thông, cả hai bên đều bị thương nhưng phần lỗi thuộc về tôi nên tôi phải đền bù cho bà tiền thuốc thang, chi phí điều trị bệnh, tôi đã mượn tiền của chị tôi 50 triệu để trả.
3, Năm 2018, tôi có xây dựng căn nhà trên thửa đất mà nhà nước đã cấp cho tôi với đồng lương ít ỏi, trong khi vợ tôi đang sinh con và nghỉ không lương nên tôi có vay mượn của anh chị tôi số tiền là 250 triệu và của mẹ tôi lần đầu là 200 triệu và lần thứ hai là 150 triệu để hoàn thiện căn nhà rồi mới về đón vợ và con nhỏ lên, trong quá trình làm nhà tôi có hỏi tiền để làm nhà nhưng vợ tôi không đưa, khi tôi hỏi đến tiền cưới và vàng cưới đâu? Cô ấy bảo: Mất hết rồi? và sau đó vợ tôi cũng đưa cho tôi 10 triệu đồng để mua gạch lát nền nhà. Tiền lương vợ tôi đi làm thì vợ tôi giữ làm của riêng, không chi tiêu đồng nào cho gia đình nhỏ của chúng tôi và trong thời gian tôi làm nhà thì vợ tôi lấy tiền riêng đó sửa sang lại nhà cửa cho mẹ đẻ, tiền vàng cưới của vợ chồng chúng tôi, vợ tôi giữ và bảo mất hết nên tôi không có tiền làm nhà nên tôi mới mượn tiền của người nhà tôi có giấy vay mượn và có người làm chứng, vợ tôi đang nghỉ sinh ở nhà mẹ đẻ không tiện lên, và không biết số tiền tôi đã mượn, còn gia đình tôi tin tưởng tôi nên đã cho tôi mượn.
4, Năm 2019 vợ chồng tôi có thuế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngôi nhà tôi đang ở cho ngân hàng để làm ăn, tổng hai đợt vay là 500 triệu đồng (năm trăm triệu đồng) tôi đã mua đất ở quê vợ và vợ đứng tên, hết 200 triệu đồng và số tiền còn lại tôi mua lô đất gần nơi tôi cư trú và tôi đã bán lô đất đó rồi. Và tôi đã trả hết nợ ngân hàng (500 triệu). Và vừa rồi tôi có vay lại 500 triệu (tôi không cần làm hồ sơ nữa vì hồ sơ vay của tôi còn ở ngân hàng tôi chỉ thuế chấp quyền sử dụng đất của tôi thôi). Số tiền tôi vay được tôi đã trả cho chị tôi 365 triệu (tiền tôi đã mượn chị tôi để nộp tiền thuế, tiền đền bù tai nạn và tiền làm nhà) và trả cho mẹ tôi 135 triệu, tôi còn nợ mẹ tôi 215 triệu.
Trong thời gian hôn nhân từ năm 2015 đến nay vợ tôi đi làm xa cuối tuần mới về nhà. Vì vậy tiền cô ấy làm ra cô ấy giữ và mua sắm vật dụng phục vụ cho bản thân cô ấy, còn việc ăn uống, mọi việc trong nhà một mình tôi cán đáng, con cái, nợ nần mọi việc một mình tôi lo, vợ tôi không đóng góp gì cả và cũng chẳng chịu trả nợ, lương của tôi phải lo trả lãi hàng tháng, nuôi con ăn uống chi tiêu trong gia đình, vợ tôi không biết đến, không phụ tôi trả nợ mà còn ỷ lại, giao hết việc cho tôi, vừa nuôi con vừa trả nợ suốt 4 năm nay.
Con tôi còn nhỏ nên tôi có nhờ mẹ ruột tôi chăm nom, ngoài thời gian làm việc ở cơ quan, tôi tranh thủ thời gian rảnh đi làm thêm sửa điện nước, làm môi giới nhà đất (chỉ người ta mua đất và nhận tiền hoa hồng), tôi làm thêm nhiều việc miễn việc đó có tiền là tôi làm. Tất cả vật dụng trong gia đình như bàn ghế, giường, tủ, ti vi,…đều do tôi sắm sửa. Vợ tôi không mua bất kì thứ gì để phục vụ chung cho gia đình.
Vừa rồi tôi có thỏa thuận với vợ tôi khi ra tòa con 2 đứa con chia đôi, đất ở quê vợ chia cho vợ nhà tôi đang ở phần tôi, mọi khoảng nợ tôi chịu và tôi đưa thêm cho cô ấy 300 triệu đồng nữa, nhưng cô ấy không đồng ý cô ấy đòi lô đất và 400 triệu và qua thông tin tôi được biết vợ tôi đòi tiền và yêu cầu tôi thừa nhận mảnh đất tôi mua ở quê vợ là tài sản riêng của cô ấy nhưng cô ấy sẽ không công nhận đất và nhà tôi đang ở là tài sản riêng của tôi.
Vậy luật sư cho tôi hỏi một số điều:
- Làm như thế nào để việc giải quyết li hôn diễn ra nhanh không tốn nhiều thời gian?
- Nếu như định giá tài sản nhà đất thì định giá theo giá nhà nước hay giá thị trường?
- Tất cả vật dụng trong gia đình do tôi sắm sửa vậy có chia đôi cho vợ tôi không?
- Lô đất được nhà nước cấp cho tôi, đứng tên một mình tôi có phải là tài sản chung không?
- Lô đất vợ chồng tôi vay tiền để mua ở phía vợ tôi đứng tên vợ tôi có phải là tài sản chung không?
- Lô đất ở gần nơi tôi ở, tôi đã bán và trả nợ ngân hàng 500 triệu và cách đây hơn 1 tháng tôi đã vay lại vì tôi trả nợ trước thời hạn nên hồ sơ vay vốn của tôi còn ở ngân hàng số tiền đó tôi đã trả nợ cho chị tôi, tôi đã mượn để nộp tiền thuế đất, tiền tai nạn và tiền làm nhà tổng là 365 triệu đồng, và trả cho mẹ tôi 135 triệu đồng và tôi còn nợ mẹ tôi 215 triệu đồng. Vậy khi ra tòa số nợ mẹ tôi và nợ ngân hàng này có phải là nợ chung không? Vợ tôi đòi chia tiền mảnh đất tôi vừa bán có được không?
- Tất cả các khoản nợ trả lãi ngân hàng, trả tiền ăn uống, mua sắm vật dụng trong gia đình một mình tôi chi trả. Trong quá trình làm nhà vợ tôi có đưa cho tôi 10 triệu đồng nhưng ngày 17 tháng 5 năm 2021 vợ tôi có đòi 10 triệu vì cô ấy đã đưa tôi làm nhà và cô ấy đòi 10 triệu để cô ấy đưa hai con về ngoại chơi trong 2 tháng hè tôi đã đưa và cô ấy đã đưa cho tôi giấy thỏa thuận viết bằng tay với nội dung là:”Tôi đã nhận của ông T 20 triệu đồngcụ thể là:
+ Tiền ông T mượn tôi 10 triệu đồng để làm nhà.
+Tiền ông T cho tôi để mua sữa nuôi hai đứa con trong hai tháng hè 10 triệu đồng.
Tổng: 20 triệu đồng. Đây là số tiền thỏa thuận cá nhân giữa tôi và ông T, còn khi ra tòa tài sản hiện có giữa tôi và ông T sau khi đăng kí kết hôn sẽ chia đôi theo quy định của pháp luật.”
- Vậy thưa luật sư cho tôi hỏi: giấy thỏa thuận như vậy có giá trị pháp lí như thế nào?
- Trong quá trình tôi mượn tiền của mẹ và chị tôi tôi có giấy viết tay biên nhận nợ giữa người mượn và người cho mượn, người làm chứng, không có tên vợ tôi vì lúc đó vợ tôi đang nghỉ sinh và ở nhà mẹ đẻ, thì giấy mượn nợ đó có đúng pháp lý không? Và nợ đó có phải là nợ chung không?
- Vợ tôi nhất quyết đòi chia đôi tài sản, nhưng không chịu chia đôi số nợ vì cô ấy bảo cô ấy không mượn nên không trả có được không?
- Nhà cửa đất đai là do một mình tôi vay mượn làm nên, khi li hôn vợ tôi đòi chia đôi, vậy cho tôi hỏi số nợ đó có chia đôi cho vợ tôi không ?
- Tôi có công trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình còn vợ tôi không chịu đóng góp gì cả mà cố tình phá hoại vậy khi chia tài sản thì phải chia theo tỉ lệ như thế nào?
- Tiền trong tài khoản riêng khi ra tòa có chia đôi không?
- Khi li hôn tôi muốn nuôi hai con nhỏ có được không?
- Khi li hôn xong tôi không muốn vướng bận gì hay có rắc rối gì với vợ cũ thì thủ tục phải như thế nào cho đúng pháp lí?
- Vậy theo luật sư tôi nên thỏa thuận với vợ tôi để phân chia tài sản hay để tòa án giải quyết theo pháp luật?
Tôi không hiểu nhiều về luật pháp vì vậy tôi mong luật sư tư vấn giúp tôi để bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình. Mong luật sư cố gắng giúp đỡ tôi xin chân thành cảm ơn.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:
Theo thông tin anh cung cấp hiện tại vợ chồng anh đang muốn thực hiện thủ tục ly hôn. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc ly hôn có thể được thực hiện thông qua một trong hai thủ tục là thủ tục thuận tình ly hôn hoặc thủ tục đơn phương ly hôn. Trong trường hợp vợ chồng anh đều đồng ý ly hôn, các bên không phát sinh bất cứ tranh chấp nào đề phân chia tài sản, các khoản nợ, quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn thì anh chị nên lựa chọn thủ tục thuận tình ly hôn. Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục thuận tình ly hôn có thời gian giải quyết nhanh hơn, thủ tục giải quyết cũng đơn giản hơn so với thủ tục đơn phương ly hôn.
Trong trường hợp anh chị có tranh chấp về phân chia tài sản, con cái và các khoản nợ khi ly hôn thì việc ly hôn của anh chị sẽ được thực hiện theo thủ tục đơn phương ly hôn. Khi đó các vướng mắc của anh liên quan đến việc phân chia tài sản, các khoản nợ và quyền nuôi con chúng tôi tư vấn cụ thể theo quy định của pháp luật hiện hành như sau:
THỨ NHẤT, VỀ VIỆC PHÂN CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Trước khi xác định việc phân chia các tài sản như thế nào cần xác định tài sản anh chị đang tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, tài sản do vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung và các tài sản khác do vợ chồng cùng thỏa thuận là tài sản chung.
Theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản riêng là các tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản có được sau khi vợ chồng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Đối chiếu với trường hợp của anh, việc xác định từng tài sản là tài sản chung hay tài sản riêng như sau:
ĐỐI VỚI PHẦN ĐẤT ĐƯỢC UBND HUYỆN CẤP NĂM 2016: Theo thông tin anh cung cấp, xác định phần diện tích đất này được cơ quan có thẩm quyền cấp trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng anh, hiện tại do một mình anh đứng tên. Căn cứ theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có căn cứ để xác định phần tài sản này là tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng anh. Vào năm 2018, anh có xây dựng căn nhà trên phần diện tích đất này, cũng căn cứ theo quy định tại Điều 33 đã nêu trên thì căn nhà cũng được xác định là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh chị.
ĐỐI VỚI MẢNH ĐẤT ĐANG TỨNG TÊN VỢ ANH: Phần diện tích đất này được mua trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bằng khoản tiền vay tại ngân hàng. Nếu sau khi mua mảnh đất, vợ chồng anh không có thỏa thuận phân chia tài sản, không có văn bản xác nhận đây là tài sản riêng của vợ anh thì mảnh đất này là tài sản chung do được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của anh chị.
Việc anh chị đứng tên riêng trên các mảnh đất này không đồng nghĩa với việc tài sản này là tài sản riêng của mỗi người trong thời kỳ hôn nhân.
ĐỐI VỚI LÔ ĐẤT ANH ĐÃ BÁN: Cũng căn cứ theo quy định tại Điều 33 đã nêu trên, phần tiền có được từ chuyển nhượng tài sản này được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
ĐỐI VỚI KHOẢN TIỀN RIÊNG TRONG TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG: Nếu khoản tiền có được trong tài khoản này do tiết kiệm trong thời kỳ hôn nhân thì được xác định là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Ngoài ra, tất cả các tài sản khác trong ngôi nhà do vợ anh hoặc anh mua trong thời kỳ hôn nhân đều được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Việc phân chia tài sản khi ly hôn được giải quyết theo nguyên tắc tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
…”
Theo quy định nêu trên, nếu vợ chồng tự thỏa thuận phân chia tài sản thì Tòa án ưu tiên công nhận sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của một trong các bên, Tòa án tiến hành phân chia tài sản theo nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như công sức đóng góp của vợ chồng trong việc tạo lập và duy trì khối tài sản chung, hoàn cảnh gia đình của các bên, lỗi của các bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng…
Với trường hợp của anh, như đã phân tích trên, có căn cứ để xác định tất cả các tài sản anh đã nêu là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, do đó khi ly hôn có căn cứ để vợ anh yêu cầu phân chia tất cả các tài sản này. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ theo nguyên tắc phân chia tài sản đã nêu trên để phân chia, việc vợ chồng anh có được chia đều phần tài sản này hay không còn phụ thuộc vào việc các bên chứng minh công sức đóng góp của mình trong quá trình tạo lập và phát triển khối tài sản chung.
Khi phân chia tài sản, Tòa án ưu tiên để các bên tự thỏa thuận về giá trị tài sản hoặc lựa chọn tổ chức thẩm định giá để định giá phần tài sản này, trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về giá trị tài sản hoặc không lựa chọn được tổ chức thẩm định giá hoặc các tổ chức thẩm định giá đưa ra mức giá khác nhau…thì Tòa án sẽ ra quyết định định giá tài sản và thành lập hội đồng định giá theo nguyên tắc việc xác định giá trị khối tài sản chung của vợ chồng hoặc phần giá trị mà vợ chồng phải thanh toán, vợ chồng được hưởng là căn cứ vào giá giao dịch thực tế tại địa phương vào thời điểm xét xử.
THỨ HAI, ĐỐI VỚI CÁC KHOẢN NỢ TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
Trong thời kỳ hôn nhân, anh có phát sinh các khoản nợ bao gồm: 65 triệu của chị gái để nộp tiền thuế sử dụng đất; 50 triệu của chị gái để bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông; 250 triệu của anh chị để xây nhà, 300 triệu của mẹ để xây nhà và 500 triệu của ngân hàng. Toàn bộ các khoản nợ nêu trên đều do anh đứng tên trên hợp đồng vay tài sản.
Tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau:
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Theo quy định này thì nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình được xác định là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Theo thông tin anh cung cấp, có thể xác định các khoản nợ anh tự mình thực hiện đều nhằm phục vụ cho các mục đích chung của gia đình như nộp thuế sử dụng đất, xây dựng nhà cửa, bồi thường thiệt hại… các mục đích anh nêu trên có căn cứ để xác định là nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Do đó, khi ly hôn, nếu anh chứng minh được có các khoản vay này thông qua hợp đồng vay tài sản (hợp đồng vay tài sản không bắt buộc phải có công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền) và toàn bộ các khoản vay này đều được sử dụng vào mục đích chung của gia đình như anh đã nêu thì có căn cứ để yêu cầu vợ anh cùng chịu trách nhiệm về khoản vay này.
Với văn bản thỏa thuận hai vợ chồng anh lập liên quan đến khoản tiền 20 triệu chỉ có giá trị xác định việc vợ chồng anh có cho nhau vay một khoản tiền và hiện tại đã hoàn trả khoản tiền đó.
THỨ BA, VỀ QUYỀN NUÔI CON KHI LY HÔN
Tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:
“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn vợ chồng có tranh chấp về quyền nuôi con thì Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện nuôi con của các bên để xác định quyền nuôi con, con dưới 36 tháng tuổi thì giao cho người mẹ trực tiếp nuôi.
Đối chiếu với trường hợp của anh, với cháu sinh ngày 01/10/2024 hiện tại cháu chưa đủ 36 tháng tuổi, do đó căn cứ theo quy định nêu trên khi ly hôn quyền nuôi cháu sẽ được giao trực tiếp cho vợ anh.
Với cháu sinh ngày 20/7/2021, hiện tại cháu đã đủ 03 tuổi nhưng chưa đủ 07 tuổi, khi ly hôn Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện trực tiếp nuôi con của vợ chồng anh để quyết định người trực tiếp nuôi con. Các điều kiện được xem xét khi tranh chấp quyền nuôi con bao gồm: điều kiện vật chất như điều kiện ăn ở, học tập, vui chơi…các điều kiện này được xác định dựa trên thu nhập thực tế, chỗ ở hợp pháp, tài sản của hai anh chị; điều kiện tinh thần bao gồm các điều kiện như thời gian trực tiếp chăm sóc, giáo dục con; tình cảm của cha, mẹ đối với con trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; điều kiện cho con vui chơi, hoàn thiện nhân cách; nhân cách của người trực tiếp nuôi con…
Với trường hợp của anh chị, nếu muốn việc ly hôn được thuận tiện, nhanh chóng, anh chị nên thỏa thuận với nhau về vấn đề phân chia tài sản, các khoản nợ và con cái khi ly hôn. Tuy nhiên, nếu anh chị không tự thỏa thuận được các vấn đề nêu trên thì để đảm bảo quyền lợi của các bên, anh chị nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: