Nội dung anh yêu cầu tư vấn: “Anh trai tôi kết hôn năm 2019, hiện nay có một con chung năm nay 5 tuổi, sống chung với ông bà. Gia đình làm nông nghiệp mọi quyền sử dụng đất đai, nhà cửa đều đứng tên ông ngoại trừ anh chị tôi được một suất đất tái định cư do nhà nước cấp cho khi đền bù làm đường cao tốc qua nhà. Theo giá quy định của nhà nước trị giá suất đất là 900 triệu đồng, suất đất đã bán và nhận tiền khi ký hợp đồng viết tay với môi giới là 3 tỷ 2 đồng thời trong quá trình bán đất anh chị tôi ký hợp đồng công chứng với ông B số tiền 950 trăm triệu. Tháng 3/2026 chị dâu tôi nộp đơn xin ly hôn với nội dung sau:
1. Con để anh trai tôi nuôi đề nghị không trợ cấp hàng tháng
2. Lô đất chia đôi giá trị theo giá quy định của nhà nước là 900 triệu
Anh tôi đồng ý ly hôn và đồng ý các yêu cầu theo đơn. Tuy nhiên khi ra tòa ly hôn chị dâu tôi lại thay đổi quyết định (nhân viên tòa án soạn lại đơn theo lời chị dâu) với yêu cầu:
1. Con chị dâu nuôi và yêu cầu anh trai tôi phụ cấp 2 triệu đồng/tháng
2. Chia đôi giá trị suất đất đã bán là 3 tỷ 2 (hợp đồng ký tay với môi giới)
Anh trai tôi đồng ý để chị dâu nuôi con nhưng không phụ cấp và không đồng ý chia đôi giá trị lô đất với giá 3 tỷ 2. Lưu ý: Đất đã bán được hơn 1 năm. Xin quý công ty cho tôi được biết với tình hình trên đây thì bên anh trai tôi có phần thắng không? và anh trai tôi cần phải làm gì? giờ anh trai tôi có quyền không chia cho chị dâu tôi bất cứ đồng nào được không?
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, đối với vấn đề anh trai bạn không đồng ý cấp dưỡng cho con:
Cấp dưỡng có thể hiểu là việc một người theo quy định của pháp luật có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình và có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi dưỡng mình. Do đó, Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ghi nhận như sau:
“Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”
Vậy theo quy định nêu trên, nếu anh trai bạn không trực tiếp nuôi con thì phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Việc cấp dưỡng thể hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con, mặc dù quan hệ hôn nhân đã chấm dứt nhưng cha mẹ vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với con của mình. Và mức cấp dưỡng sẽ được xác định theo thỏa thuận các bên, nếu không thỏa thuận được, Tòa án sẽ ấn định mức cấp dưỡng cụ thể. Hiện nay, không có quy định về việc xác định mức cấp dưỡng mà thông qua thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân các cấp thường dựa trên các tiêu chí như: dựa trên nhu cầu sống tối thiểu của người được cấp dưỡng (nhu cầu ăn, mặc, ở, học tập...) và căn cứ vào khả năng tài chính của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Thứ hai, đối với vấn đề phân chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn:
Căn cứ theo thông tin mà bạn đã cung cấp, mảnh đất được cấp cho vợ chồng anh trai bạn trong thời kỳ hôn nhân, do đó đây sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng anh trai bạn theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
Tuy nhiên, mảnh đất đã được bán với giá 3,2 tỷ đồng và số tiền này cũng được xác định là tài sản chung của vợ chồng anh trai bạn. Nhưng dựa trên thông tin bạn cung cấp bổ sung trong quá trình tư vấn trực tiếp: trong 3,2 tỷ này có 600 triệu đã được chuyển giao cho ba của bạn thông qua hợp đồng tặng cho đã được công chứng. Do đó, ba của bạn có quyền sở hữu khoản tiền này từ thời điểm vợ chồng anh chị bạn giao cho ba bạn số tiền này. Và mảnh đất hình thành từ khoản tiền 600 triệu đã tặng cho ba của bạn được xác định là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ba bạn.
Mặt khác, căn cứ theo thông tin bạn cung cấp, số tiền còn lại của vợ chồng anh chị bạn đã được sử dụng để xây nhà. Vì vậy, để phân chia tài sản sau khi ly hôn sẽ cần phải xem xét giữa anh chị bạn còn tài sản chung không? Nếu còn tài sản chung thì phần tài sản này sẽ được phân chia theo nguyên tắc được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”
Nếu anh chị bạn có công sức đóng góp xây nhà thì phần tài sản của anh chị sẽ được phân chia dựa trên công sức đóng góp của vợ chồng anh chị bạn; trường hợp không xác định được cụ thể phần công sức đóng góp thì việc chia tài sản sẽ căn cứ vào thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được thì các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình
1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”
Ngoài ra, đối với thắc mắc của bạn về việc anh trai bạn có khả năng thắng trong quá trình giải quyết tranh chấp hay không thì cần phải xem xét về các yếu tố như dựa vào toàn bộ hồ sơ vụ án, lời khai của các bên và các chứng cứ mà các bên cung cấp... Do đó, chúng tôi đang tư vấn dựa trên thông tin được cung cấp từ một phía nên sẽ không thể trả lời về khả năng thắng kiện của anh trai bạn.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: