Tư vấn tranh chấp quyền thừa kế giữa con dâu và nhà chồng

Tư vấn tranh chấp quyền thừa kế giữa con dâu và nhà chồng

2026-09-16 13:39:29 2

Vợ chồng tôi cưới nhau năm 2001, năm 1993 chồng tôi đi làm mua được một mảnh đất. Năm 2004 vợ chồng tôi làm bìa đỏ cho mảnh đất đó đứng tên hộ ông…(chồng tôi). Năm 2011 chồng tôi bị tai nạn mất bất ngờ. Sau 5 năm, gia đình tôi họp gia đình, tôi xin phép mẹ chồng và các chị chồng cho tôi quyền đứng tên bìa đỏ để thế chấp ngân hàng xây nhà. Mẹ chồng và các chị chồng bảo đồng ý với điều kiện là tôi phải ký tên vào di chúc của mẹ chồng tôi là sau này chia đều cho 8 chị chồng. Tôi bảo không đồng ý vì chồng tôi bị tại nạn bất ngờ mất (không để lại di chúc), để lại khoản nợ vay ngân hàng 600 triệu. Một mình tôi nuôi hai con với mẹ chồng và trả nợ ngân hàng có giấy tờ đầy đủ. Gia đình nhà chồng không ai hỗ trợ cho tôi một đồng nào kể cả nuôi mẹ. Đến nay đòi chia đều tài sản đó cho 8 con gái.

Các chị chồng nhà tôi yêu câu tôi một lần ra văn phòng công chứng sang tên bìa đỏ cho mẹ chồng tôi. Sau khi nghe qua tư vấn là sang tên cho mẹ chồng là tôi trắng tay thế là tôi đi về không nói gì đến nữa. Đến giờ gia đình tôi khẳng định là tôi không có quyền gì hết chỉ mẹ chồng tôi mới có quyền di chúc về toàn bộ tài sản này. 

Vây tôi xin nhờ luật sư tư vấn về quyền thừa kế vợ, con được hưởng theo quy định của pháp luật. Mẹ chồng tôi được hưởng những gì? Làm thế nào để tôi sang tên bìa đỏ được (mẹ chồng tôi không đồng ý). Tôi không muốn đua ra tòa mà chỉ muốn mọi chuyện giải quyết gia đình. Nhưng điều đó chỉ đồng ý khi tôi chấp nhận chia đều tài sản cho 8 chị chồng thì được.

Tôi không muốn khởi kiện mà chỉ muốn nhờ pháp luật giải quyết rõ ràng quyền thừa kế vợ con được hưởng và sau này tôi cho hai con tôi cho các cháu đỡ thiệt thòi. Xin nhờ luật sư tư vấn rõ. Xin trân trọng cảm ơn. Tôi có ảnh chúp giấy tờ kèm theo.

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự:

Điều 674 BLDS 2005 quy định về thừa kế theo pháp luật: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định”.

Điều 675 BLDS 2005 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật:

“ 1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

...

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế”.

Điều 676 BLDS 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

...”.

Theo chị trình bày, năm 2001 chồng bị tai nạn mất đột ngột mà không để lại di chúc. Theo quy định tại Điều 674, Điều 675, Điều 676 BLDS 2005, những người có quyền được hưởng di sản thừa kế đối với trường hợp của gia đình chị bao gồm: người mẹ chồng, vợ và 02 con chung.

Mẹ chồng chỉ được định đoạt (lập di chúc) trong phạm vi tài sản thuộc quyền sở hữu của bà (phần di sản được thừa kế từ người con trai) và không có quyền định đoạt toàn bộ khối tài sản đang tranh chấp. 8 người chị em chồng đều không có quyền được hưởng phần di sản thừa kế của chồng chị để lại và không có quyền yêu cầu chị hay cơ quan có thẩm quyền giải quyết chia di sản thừa kế.

Thứ hai, về việc chia di sản thừa kế và sang tên sổ đỏ: 

Theo quy định của pháp luât, trường hợp người có di sản thừa kế mất không để lại di chúc mà đương sự có ý muốn chia khối di sản này thì có hai phương án để thực hiện:

Phương án 1: Các bên sẽ tiến hành thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng. Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là căn cứ để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.

Phương án 2: Trường hợp đương sự không tự nguyện thỏa thuận mà nảy sinh tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết.

Chị có quyền nộp đơn tới TAND để yêu cầu chia di sản thừa kế của chồng để lại. 

Theo chị trình bày, các bên hiện tại không thể thỏa thuận chia di sản thừa kế (mẹ chồng không đồng ý) nên muốn giải quyết dứt điểm tranh chấp thì buộc chị phải nộp đơn tại TAND. 

Thứ ba, xác định phần tài sản là di sản thừa kế của người chồng để lại

Với thông tin chị cung cấp thì khối tài sản các bên tranh chấp bao gồm có đất và tài sản trên đất. 

Về tài sản trên đất là công trình nhà cửa được xây dựng vào năm 2009 và hoàn thiện năm 2010:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

Như vậy, công trình trên đất là tài sản chung hợp nhất của vợ, chồng. Di sản thừa kế của chồng được xác định gồm ½ giá trị của công trình trên, và còn ½ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị.

Về quyền sử dụng đất là 120m2 chồng chị đi làm mua vào thời điểm năm 1993:

Năm 1993, trước khi kết hôn thì chồng chị mua đất, nhưng tới năm 2004 gia đình mới làm bìa đỏ đứng tên Hộ ông…. cho tới nay.

Theo quy định tại Điều 212 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 212. Sở hữu chung của các thành viên gia đình

1. Tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác".

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của Bộ luật này.

Theo chị trình bày, thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông…. 

Nếu có căn cứ theo quy định tại Điều 212 nêu trên (thỏa thuận của các thành viên trong hộ là tài sản chung của hộ) thì khối tài sản được xác định là tài sản chung của hộ và theo nguyên tắc cá nhân đứng tên trong Sổ hộ khẩu tại thời điểm công nhận có quyền sử dụng thửa đất trên. Đối với trường hợp này, phần di sản thừa kế của chồng chị là 1/x thửa đất và chia đều có các đồng thừa kế.

Ngoài ra, chị lưu ý về phần di sản thừa kế mà người mẹ chồng được hưởng, nếu như không được định đoạt trong thời gian người mẹ chồng còn sống thì khi người mẹ chồng mất, phần di sản mà mẹ chồng được hưởng sẽ trở thành di sản thừa kế của mẹ chồng và được chia theo di chúc của bà hoặc chia theo pháp luật cho những người thừa kế của bà (tức các chị em của chồng chị).

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi