Nội dung câu hỏi: Tôi có đọc trên Facebook của Nguyễn Thị Trang về việc làm xớ. Tôi có nhắn tin hỏi thì Nguyễn Thị Trang báo mức chi phí là 3 triệu tiền lễ. Mây hôm sau, tôi nhắn lại trên Facebook xin hỗ trợ giá thì Trang nói giảm còn 2 triệu và cho biết là may mắn để tối nhận Lộc.
Sau khi tôi chuyển khoản 2 triệu cho Nguyễn Thị Trang, Trang nói hôm nay tôi sẽ nhận Lộc số, khẳng định tôi sẽ nhận được tiền và yêu cầu tôi chuyển thêm 20 triệu tiền lễ. Sau khi tôi chuyển xong, Trang hỏi tôi có biết chỗ ghi số không, tôi trả lời là không chơi nên không biết. Trang bảo sẽ ghi cho tôi và yêu cầu tôi chuyển thêm 10 triệu. Sau đó tôi tiếp tục chuyển 40 triệu, rồi Trang lại yêu cầu tôi chuyển thêm 30 triệu nữa, hứa sau 10–15 phút sẽ chuyển trả lại 30 triệu vào tài khoản của tôi.
Tổng số tiền tôi đã chuyển vào tài khoản của Nguyễn Thị Trang là 102.000.000 đồng. Sau khi nhận 30 triệu, Trang nói tôi sẽ nhận được tổng số tiền là 400 triệu và hẹn sáng mai đi lấy tiền sẽ chuyển lại. Tuy nhiên, khoản 30 triệu tôi yêu cầu Trang trả lại thì Trang bắt đầu viện lý do này lý do khác nhưng không chuyển như đã hứa.
Tôi gọi điện và nhắn tin rất nhiều nhưng Trang chỉ trả lời là đang bận cúng trên điện, đồng thời nói đã chuyển tiền cho tôi rồi. Khi tôi liên hệ gọi điện qua Facebook thì Trang không trả lời, sau đó chặn luôn Facebook của tôi. Hiện tại tôi không thể liên hệ được. Facebook của Nguyễn Thị Trang hoạt động từ lâu, ngày nào cũng đăng bài, có nhiều người theo dõi, nhưng thực chất hình ảnh Trang sử dụng là hình ảnh của người khác.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
…”
Theo quy định nêu trên, để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm phải đáp ứng được các yếu tố sau:
-
Cố tình đưa ra thông tin gian dối: Việc đưa ra thông tin gian dối này thường được thực hiện ngay từ đầu để tạo sự tin tưởng của người khác, từ sự tin tưởng đó mà giao tiền hoặc tài sản cho người phạm tội;
-
Mục đích của việc đưa ra thông tin gian dối là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
Đối chiếu với trường hợp của chị, theo thông tin chị cung cấp, chị Trang có đăng lên facebook các thông tin cho thấy chị có làm xớ, chị đã liên hệ và đã thanh toán số tiền 2.000.000 triệu đồng. Sau khi thanh toán, trong quá trình nhắn tin trao đổi, chị Trang có đưa thêm một số thông tin về việc ghi số và khẳng định chị sẽ nhận được tiền. Từ các thông tin chị Trang cung cấp, chị đã chuyển tiền cho chị Trang với tổng số tiền là 102.000.000 đồng nhưng chị không nhận về được số tiền như chị Trang đã trao đổi ban đầu. Đồng thời theo chị tìm hiểu các thông tin được đăng trên facebook của chị Trang thực tế là của người khác. Từ các thông tin chị cung cấp này, bước đầu có thể nhận thấy có sự gian dối, đưa ra các thông tin không đúng với chị.
Tuy nhiên, các thông tin mà chị Trang trực tiếp trao đổi với chị cũng như các giao dịch chuyển tiền mà chị Trang yêu cầu chị thực hiện có nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của chị hay không thì hiện nay luật sư chưa đủ căn cứ, cơ sở để kết luật chính xác về vấn đề này do việc xác định có hành vi lừa đảo chiếm đoạt hay không còn phụ thuộc vào hồ sơ vụ án, các chứng cứ chứng minh, lời khai của các bên liên quan đến sự việc…
Do đó, trong trường hợp chị vẫn không thể liên hệ và yêu cầu chị Trang trả lại số tiền theo thỏa thuận của các bên, chị có thể gửi đơn đến cơ quan công an nơi chị Trang cư trú (nếu chị biết rõ nơi cư trú hiện tại của chị Trang) hoặc gửi đến cơ quan công an nơi chị đang cư trú (trong trường hợp chị không xác định được nơi cư trú của chị Trang) và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sản. Khi tiếp nhận thông tin từ chị, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh và đưa ra kết luận về việc có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình huống này hay không. Trong trường hợp chị gửi đơn đến cơ quan công an, trong đơn chị không dùng các từ ngữ mang tính chất khẳng định chị Trang phạm tội để tránh các rắc rối về sau cho mình.
Ngoài ra, chị cần lưu ý, theo thông tin chị cung cấp chị Trang và chị có trao đổi về việc mua số và khẳng định chị sẽ nhận được tiền. Cần phải xác định lại việc mua số này cụ thể là như thế nào? Số này có phải là hình thức mua số đề hay không? Trong trường hợp đây là mua số đề thì có thể khi tiếp nhận thông tin sự việc của chị, cơ quan công an có thẩm quyền có thể sẽ xem xét, điều tra về hành vi đánh bạc của các bên.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: