Gia đình tôi hiện đang có tranh chấp liên quan đến phần đất mà Bà Ngoại đã tặng cho Mẹ tôi từ năm 2005 với diện tích 3.400 m²: Hợp đồng tặng cho được lập có sự chứng kiến của người thân và xác nhận của chính quyền địa phương về việc Bà Ngoại còn minh mẫn. Sau đó, Mẹ tôi đã bán hai lần tổng cộng 2.000 m² và chia đều cho ba người gồm Bà Ngoại, Mẹ tôi và Dì tôi. Phần đất còn lại 1.400 m² hiện đứng tên Mẹ tôi và đã được cho thuê trong vòng 5 năm.
Tuy nhiên, Dì tôi không đồng ý, yêu cầu chia ngay nên đã khởi kiện. Trong quá trình này, Dì tôi nhiều lần đưa Bà Ngoại đi nơi khác, thậm chí gửi ở nhà bà con khiến gia đình tôi gặp khó khăn khi rước Bà về, có lần công an phải can thiệp. Gần đây, Dì tôi còn đưa ra giấy lăn tay mới cho rằng Bà chia đất cho vợ chồng Dì, dù giấy này chỉ mới được lập khoảng 3–4 tháng trở lại đây. Hiện tại Bà Ngoại đang sống cùng gia đình tôi, sức khỏe ổn nhưng nói khó nghe rõ, và Dì tôi tiếp tục kiện lên huyện, yêu cầu chia đất và đòi lại nhà Mẹ tôi cho thuê.
Gia đình tôi mong luật sư giải đáp ba vấn đề chính:
Thứ nhất, việc gia đình tôi đã làm giấy xác nhận tại UBND rằng Mẹ tôi chăm sóc Bà suốt 18 năm qua có đủ chứng minh nghĩa vụ chăm sóc hay cần thêm giấy tờ khác.
Thứ hai, việc Dì tôi đưa Bà (trong tình trạng câm, điếc) lên xã lăn tay có hợp pháp hay không.
Thứ ba, việc Dì tôi xúi Bà kiện vì Mẹ tôi cho thuê đất, không có chỗ cho Bà ở có ảnh hưởng gì, trong khi thực tế Mẹ tôi đã rước Bà về sống cùng.
Tóm lại, mâu thuẫn xoay quanh quyền sử dụng phần đất còn lại, nghĩa vụ chăm sóc Bà Ngoại và tính hợp pháp của giấy lăn tay mới mà Dì tôi đưa ra.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, xác định giá trị pháp lý của giấy tặng cho quyền sử dụng đất được bà ngoại của bạn lập năm 2005.
Căn cứ theo nội dung hồ sơ bạn đã gửi kèm qua email, nhận thấy rằng “Giấy phân chia tài sản riêng tặng cho con” do bà ngoại lập năm 2005 có nội dung tặng cho 3576m2 đất cho con gái là chị A. Nếu thông tin trong giấy tặng cho là có căn cứ pháp lý, tức là toàn bộ thửa đất có diện tích 3576m2 là tài sản riêng của người bà ngoại. Theo đó, bà ngoại của bạn có toàn quyền định đoạt trong việc tặng cho thửa đất này.
Tuy nhiên, việc tặng cho là có điều kiện. Căn cứ theo khoản 3 Điều 462 Bộ luật dân sự 2015 quy định trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Điều kiện của việc tặng cho đất là chị A phải chăm sóc, nuôi dưỡng bà khi ốm đau và khi về già. Hiện tại, mẹ của bạn đã được UBND xã xác nhận về việc mẹ bạn là người nuôi dưỡng chăm sóc bà trong suốt khoảng thời gian là 18 năm. Đây được coi là chứng cứ chứng minh cho việc mẹ bạn đã và đang thực hiện nghĩa vụ trong Giấy tặng cho đất.
Đối với việc người dì của bạn đưa bà ngoại về nhà và không cho mẹ của bạn đón. Trường hợp này cần chứng minh rằng mẹ bạn đã cố gắng muốn đón bà về chăm sóc nhưng người dì của bạn cố ý không đồng ý.
Theo nội dung bạn trình bày thì khi mẹ bạn đón bà ngoại về nhưng không được nên đã gửi đơn đến cơ quan công an phường và UBND phường để nhờ giải quyết. Đây được coi là một trong những chứng cứ để chứng minh cho việc người dì cản trở mẹ bạn thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng bà ngoại của bạn. Mẹ của bạn nên đến công an phường và UBND phường để xin xác nhận về sự việc này.
Như vậy, nếu mẹ bạn đã thực hiện đúng nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng bà theo đúng điều kiện ghi nhận trong Giấy tặng cho đất, đồng thời UBND huyện đã căn cứ vào việc tặng cho đất từ năm 2005 để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ của bạn thì bà không có căn cứ để đòi lại diện tích đất đã tặng cho.
Thứ hai, về việc bà ngoại của bạn có lập giấy tờ tặng cho thửa đất cho người dì.
Nếu bà ngoại của bạn đã lập giấy tặng cho phần diện tích đất cho dì, mà diện tích đất này đã được tặng cho mẹ của bạn.
Như đã phân tích ở trên, nếu mẹ bạn thực hiện đầy đủ các điều kiện của việc tặng cho đất được ghi nhận trong Giấy tờ tặng cho thì bà ngoại của bạn không thể kiện đòi phần đất này. Do vậy, mẹ của bạn là người sử dụng đất hợp pháp, điều này đồng nghĩa với việc bà ngoại của bạn dù đã lăn tay điểm chỉ vào giấy tặng cho mà dì của bạn cung cấp thì giấy tờ này cũng sẽ không có giá trị pháp lý.
Bà ngoại của bạn mặc dù bị câm và điếc nhưng nếu vẫn đủ khả năng nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, vẫn có khả năng trong việc điều khiển hành vi, ứng xử của bản thân thì bà ngoại của bạn vẫn có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Do vậy, vẫn có quyền tham gia tố tụng.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: