Tranh chấp diện tích đất mua thêm bằng giấy viết tay: Có thể đòi lại sau nhiều năm sử dụng không?

Tranh chấp diện tích đất mua thêm bằng giấy viết tay: Có thể đòi lại sau nhiều năm sử dụng không?

2026-01-07 15:01:44 17

Nội dung câu hỏi: Năm 2000 tôi có mua của ông hàng xóm là 7m đất chiều rộng  và làm sổ đỏ xong rồi thì nhà ông ấy có dư đàng trước 1 cái chẹo khoảng 10m2 và  đàng sau dư 10m2 ông ấy bán thêm cho nhà tôi và năm 2000 tôi đã làm nhà và xây  tường luôn trên cái chéo đó. Cho đến 2005 địa chính huyện đã đo đạc lại toàn bộ đất trên địa bàn huyện để lên thị xã Nghi Sơn và trên bản đồ địa chính thì cái chéo  đó thuộc về nhà tôi. Cho đến 2014 thì ông bán đất cho tôi mất và từ ngày mua đất  đến giờ không xảy ra tranh chấp đất. Đến năm 2021 vợ ông ấy bán thêm 1 xuất đất  và đổi sang sổ hồng rồi và trong sổ hồng của bà ấy không có diện tích cái chéo đó và trong bản đồ địa chính của thị xã cũng ko có diện tích cái chéo đó. Nay mẹ con  nhà bà ấy lại sang đòi lại cái chéo đó và mà cái giấy viết tay mua thêm tôi đã làm thất lạc mất rồi. Vậy luật sư tư vấn cho tôi xem họ có đòi lại được cái diện tích  chéo đó không ạ mà tôi đã làm nhà từ năm 2000 rồi ạ. Xin chân thành cảm ơn luật sư ạ.

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin chị cung cấp, chị mua diện tích đất vào năm 2000, khi mua bán các  bên có viết giấy tờ xác nhận, hiện tại gia đình hàng xóm có tranh chấp và muốn đòi  lại phần diện tích đất này. Tại mục 2 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP có  quy định về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sau: 

“2.3. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được  xác lập từ sau ngày 15/10/1993 

a) Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. 

Theo quy định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của  Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm  1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật  Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây: 

a.1) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng  lực hành vi dân sự; 

a.2) Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn  toàn tự nguyện; 

a.3) Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không  trái pháp luật, đạo đức xã hội; 

a.4) Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận  quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất  đai năm 2003; 

a.5) Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và  bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển  nhượng theo quy định của pháp luật; 

a.6) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng  nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có  thẩm quyền.” 

b) Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có đầy đủ các điều  kiện được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 này. 

b.3) Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được  hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm  nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà  nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng.  Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận  phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp  đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất  đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích  sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho  nhau phần chênh lệch.” 

Căn cứ theo quy định nêu trên, trong trường hợp các bên có tranh chấp liên quan  đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký sau ngày 15/10/1993, khi  hợp đồng đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại tại điểm a tiểu mục 2.3 mục 2 nêu  trên thì có căn cứ để cơ quan có thẩm quyền công nhận hợp đồng chuyển nhượng  quyền sử dụng đất. 

Với các thông tin chị cung cấp, nhận thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng  đất giữa chị và người hàng xóm chỉ được lập thành văn bản nhưng không được  công chứng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng thời cũng chưa xác định  được thời điểm chuyển nhượng phần 7m2 này cho chị gia đình người hàng xóm đã  có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này hay chưa. Do đó, tạm  thời luật sư xác định quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất này của  các bên đang vi phạm hai điều kiện quy định tại điểm a.4 và a.6 nêu trên. Thực tế gia đình chị đã xây dựng công trình trên đất và sử dụng từ năm 2000 đến nay, khi  xây dựng bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước  có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý  vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, do đó theo quy định nêu trên có căn cứ để xem xét công nhận hợp đồng chuyển nhượng. 

Tuy nhiên, để xác định thêm về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng theo quy  định nêu trên, chị cũng cần lưu ý việc xác định tài sản đã bán cho chị là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng. Trường hợp đây là tài sản chung của vợ chồng thì khi mua bán phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Trường hợp khi mua  bán chỉ có chữ ký của người chồng trên hợp đồng nhưng người vợ có biết về việc  chuyển nhượng nhưng không phản đối, có nhận tiền chuyển nhượng và sử dụng số tiền chuyển nhượng này thì có căn cứ để xác định người vợ cũng đồng ý hợp đồng  chuyển nhượng. 

Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, chị cần cung cấp các căn cứ chứng minh  việc gia đình hàng xóm đã bán phần diện tích đất này cho mình từ năm 2000 và gia  đình chị sử dụng từ đó đến nay. Việc chứng minh có thể thông qua giấy tờ chuyển  nhượng, thông qua hồ sơ địa chính và thực tế việc sử dụng đất tại địa phương. 

Trường hợp có căn cứ chứng minh gia đình chị đã mua lại đất này từ năm 2000, khi  mua người vợ có biết và không phản đối việc mua bán, người vợ có nhận tiền mua  bán, gia đình chị đã xây dựng công trình và sử dụng phần diện tích đất đã mua  thêm này từ năm 2000 đến nay thì có căn cứ để công nhận hợp đồng chuyển  nhượng được giao kết vào năm 2000 này. 

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi