Nội dung hỏi: Bạn mình có mượn giấy căn cước với bằng lái xe của mình để mua trả góp. Góp được 7 tháng rồi, còn 2 tháng nữa không góp. Mình có mời công an để về nhà nói chuyện với người đó được không?
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Căn cước công dân 2023: “Căn cước là thông tin cơ bản về nhân thân, lai lịch, nhân dạng và sinh trắc học của một người..” Đồng thời, Điều 5 Luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân đối với CCCD thì: Công dân sử dụng thẻ căn cước trong các giao dịch, thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Có trách nhiệm bảo quản thẻ căn cước đã được cấp.
Bên cạnh đó, Khoản 7 Điều 7 Luật này quy định về các hành vi nghiêm cấm đối với CCCD như sau: “Làm giả, sửa chữa, cố ý làm sai lệch nội dung thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước; chiếm đoạt, sử dụng trái phép thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước của người khác; thuê, cho thuê, cầm cố, nhận cầm cố, hủy hoại thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước; sử dụng thẻ căn cước giả, căn cước điện tử giả, giấy chứng nhận căn cước giả..”
Theo quy định trên, khi được cấp CCD, chị phải có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn CCCD. Việc thuê – cho thuê, mượn – cho mượn, sử dụng trái phép CCCD của người khác là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Do đó, việc chị cho bạn mượn CCCD và việc bạn chị mượn CCCD của chị đều có thể hành vi vi phạm quy định pháp luật. Cụ thể:
Khoản 4 Điều 11 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi cho mượn CCCD như sau:
"4. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Sử dụng thẻ căn cước công dân giả, thẻ căn cước giả, căn cước điện tử giả, giấy chứng nhận căn cước giả, giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại giả; sử dụng thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước đã hết giá trị sử dụng để thực hiện hành vi trái pháp luật;
b) Cầm cố, nhận cầm cố thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại;
c) Thuê, cho thuê thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc giấy xác nhận số định danh cá nhân đã hủy với số định danh cá nhân đã xác lập lại".
Tuy nhiên, nếu như người bạn tự ý sử dụng CCCD của chị để mua hàng trả góp mà chị hoàn toàn không biết và không lường trước được việc này thì hành vi cho mượn CCCD của chị là hành vi vi phạm quy định pháp luật nhưng chưa đến mức bị xử phạt hành chính.
Về trách nhiệm đối với khoản tiền mua trả góp: Hiện nay giấy tờ mua hàng trả góp đang mang tên của chị nên bên bán hàng đang xác định chị là người nợ tiền. Tuy nhiên, khi bạn của chị sử dụng CCCD và bằng lái xe của chị để giao kết hợp đồng mua xe trả góp, bên bán hàng có trách nhiệm xem xét, kiểm tra xem người giao kết hợp đồng và người trên CCCD, bằng lái xe có cùng là một người hay không rồi mới thực hiện giao kết hợp đồng. Nếu không trùng khớp, bên bán hàng phải từ chối giao kết hợp đồng mua xe trả góp hoặc yêu cầu bạn của chị cung cấp giấy tờ chính chủ để giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, họ vẫn giao kết hơp đồng với bạn của chị nhưng hồ sơ lại là tên của người khác.
Do chị không phải là người giao kết hợp đồng mua hàng trả góp nên để bảo vệ quyền lợi của mình, chị cần làm văn bản thông báo gửi đến bên bán hàng thông tin về việc hồ sơ của mình bị người khác tự ý sử dụng để mua hàng trả góp và từ chối trách nhiệm đối với khoản nợ.
Trường hợp bạn của chị tự ý sử dụng giấy tờ của chị mua hàng trả góp, bên bán do không kiểm tra kỹ đã giao kết hợp đồng. Nay bạn của chị không có khả năng thanh toán, đồng thời không trả lại tài sản thì hành vi này có dấu hiệu hình sự liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản. Chị hoặc bên bán hàng có thể trình báo cơ quan công an để làm rõ hành vi, trách nhiệm của người bạn.
Tuy nhiên, nếu như khi làm hồ sơ mua hàng trả góp, chị biết và đồng ý cho người bạn dùng giấy tờ của mình để mua hàng, chị là người ký tên trên hồ sơ mua hàng thì chị được xác định là người trực tiếp giao kết hợp đồng và có trách nhiệm trả khoản tiền mua hàng còn lại. Trường hợp này, chỉ phát trinh tranh chấp giữa chị và người bạn liên quan đến việc hoàn trả nhau tiền mua hàng hoặc hoàn trả hàng đã mua. Khi đó không có dấu hiệu hình sự, cơ quan công an sẽ không có thẩm quyền giải quyết.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: