Trách nhiệm hình sự và dân sự khi xảy ra xô xát dùng gạch đánh trả

Trách nhiệm hình sự và dân sự khi xảy ra xô xát dùng gạch đánh trả

2025-12-25 23:08:07 37

Nội dung câu hỏi:

Bị can A cãi nhau với mẹ của bị hại, bị hại bênh mẹ vợ, chạy lại đánh bị can trước (có nhiều người chứng kiến), bị can đang bị đau tay đánh không lại nên cầm viên  gạch ở gần đánh trả. Vậy:

  1. Với việc đánh nhau như em trình bày ở trên sẽ xử lý theo luật, thông tư, điều nào?
  2. Chi tiết các chi phí phải bồi thường cho các trường hợp cơ bản
  3. Khi bên bị hại nộp đơn lên công an huyện, nếu phải ra toàn thì mức án tối đa, tối thiểu mà bị can phải chịu và số tiền cần phải đền bù thiệt hại?
  4. Các tình tiết giảm nhẹ cho bị can có thể đưa ra? 

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, về việc truy cứu trách nhiệm hình sự:

Trước tiên, theo thông tin chị cung cấp người nhà chị bị người khác gây thương tích. Với các thông tin, hình ảnh chị cung cấp chưa đủ căn cứ để luật sư  xác định được mức độ thương tích của người nhà chị trong vụ việc này, do đó  chưa thể xác định ngay hành vi gây thương tích này đã đủ căn cứ để truy cứu  trách nhiệm hình sự hay chưa. Do vậy, trong nội dung tư vấn luật sư đưa ra các trường hợp để chị tham khảo.

Với nội dung trên, hành vi của người A có thể được xác định là hành vi cố ý gây  thương tích. Tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có quy  định về tội cố ý gây thương tích như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường  hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến  03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng  hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. …”

Theo quy định nêu trên, hành vi cố ý gây thương tích cho người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi mức độ thương tích từ 11% trở lên, trường hợp dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp đã liệt kê thì người gây thương  tích vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Đối chiếu với trường hợp của chị, hiện tại chưa có thông tin về mức độ thương  tích của người bị hại, do đó nếu sau khi cơ quan công an tiếp nhận vụ án, có kết  quả giám định thương tật và xác định được phần trăm tỷ lệ tổn thương cơ thể của  người nhà chị từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng hành vi của người A thuộc các  trường hợp đã liệt kê ((Cầm gạch đánh vào đầu cũng được coi là hung khí nguy  hiểm) tại Khoản 1 Điều 134 nêu trên thì có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình  sự với người A về hành vi cố ý gây thương tích.

Khi người A bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng cần phải xác định được mức  độ thương tích cụ thể của người bị hại là bao nhiêu, làm căn cứ để xác định  khung hình phạt cũng như mức hình phạt tối đa, hoặc mức hình phạt tối thiểu  mà người A phải chịu. 

Trường hợp có căn cứ cho rằng chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi cố ý gây thương tích theo quy định nêu trên thì hành vi gây thương  tích của người A sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 5.000.000  đồng đến 8.000.000 đồng theo quy định tại Điểm a, Khoản 5, Điều 7 Nghị định  144/2021/NĐ-CP.

Thứ hai, về việc bồi thường thiệt hại:

Trong trường hợp này người A có hành vi gây thiệt hại về sức khỏe cho người  khác, do đó việc bồi thường sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật liên  quan đến bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Cụ thể sẽ căn cứ theo  quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.  Theo đó, các chi phí bồi thường người bị hại được quyền yêu cầu bồi thường  gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại (lưu ý tập hợp đủ hóa đơn, chi phí cứu  chữa);

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập  thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp  dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và  cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý  cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

- Thiệt hại khác (nếu có).

- Bồi thường tổn thất về tinh thần: mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần  do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người  có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà  nước quy định.

Chị có thể căn cứ vào các quy định pháp luật nêu trên để đưa ra một mức yêu cầu  bồi thường cho bên A. Pháp luật hiện nay không có quy định mức bồi thường tối  đa cho hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác, do vậy, các bên căn cứ vào  quy định nêu trên để thỏa thuận mức bồi thường dựa trên tình hình thực tế sực  việc.

Thứ ba, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm:

Trong trường hợp người A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích thì trong quá trình xét xử và quyết định hình phạt, người có thể được áp dụng các biện pháp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các biện pháp giảm  nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể tại Điều 51 Bộ luật hình sự 2015  (sửa đổi, bổ sung 2017). Trong đó, các tình tiết có thể được áp dụng trong vụ án  này gồm:

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu  quả. Tình tiết này được áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền xác định người A đã  tự nguyện bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ thiệt hại về sức khỏe của  người bị hại;

- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết này được áp dụng  khi tronng quá trình điều tra, xét xử cơ quan có thẩm quyền xác định người phạm  tội thực sự hợp tác, thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải.

- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con  của liệt sĩ.

- Các tình tiết khác quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, nếu A đáp ứng  được.

- Ngoài ra, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác  là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Ví dụ như  trường hợp người bị hại cũng có lỗi trong vụ án, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt…

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi