Mẹ tôi không may bị 1 thanh niên trong làng chạy xe không đèn, chở hàng lậu với tốc độ nhanh, nên đã gây tai nạn làm mẹ tôi mất trên đường đi cấp cứu, khi gây ra tai nạn đối tượng bỏ chạy và bỏ mặc mẹ tôi nằm ở đấy, vì vậy cho tôi hỏi nếu đi tù thì đối tượng đó phải nhận bao nhiêu năm mới xứng đáng, vì gia đình chúng tôi rất uất hận hành vi đó rất nhiều, xin tư vấn về thắc mắc và hỗ trợ gia đình cần làm thủ tục gì để đòi lại công bằng cho mẹ.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

1. Trách nhiệm hình sự khi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được mô tả như sau:
“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; …”
Tại Điều 3 Thông tư 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIX của bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông quy định như sau:
“Điều 3. Về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự - cũ)
1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản. …”
Đối chiếu với hai quy định trích dẫn nêu trên, hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông của đối tượng trên dẫn đến thiệt hại là 01 người chết, ngoài ra không có thiệt hại khác thì bị truy cứ trách nhiệm hình sự khi có đủ yếu tố sau:
- Mặt khách thể: Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác. Theo thông tin mà chị cung cấp thì thiệt hại làm 01 người chết, do đó trường hợp này đủ yếu tố về mặt khách thể của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Mặt chủ thể: Người vi phạm phải từ đủ 16 tuổi trở lên, không mắc mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Trường hợp đối tượng trên dưới 16 tuổi hoặc mắc các bệnh được liệt kê nêu trên thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.
- Mặt khách quan:
+ Quá trình tham gia giao thông có vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ được liệt kê từ điều 9 đến điều 38 của Luật an toàn giao thông đường bộ 2008 dẫn đến tai nạn;
+ Hành vi vi phạm của người tham gia giao thông là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại tính mạng.
Yếu tố này được hiểu rằng, trong quá trình tham gia giao thông đối tượng vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn và hành vi vi phạm phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến mẹ của chị bị chết thì mới đủ căn cứ cấu thành mặt khách quan của Tội phạm này.
- Mặt chủ quan: Thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.
+ Vô ý do tự tin, trong trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho người khác nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
+ Vô ý do cẩu thả, trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho người khác, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Trường hợp hành vi của đối tượng trên thỏa mãn các yếu tố được phân tích thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 260 Bộ Luật hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Thông tin mà Luật Tháng Mười có được, đối tượng trên tham gia giao thông trời tối không bật đèn, phóng nhanh gây tại nạn làm chết 01 người, sau đó bỏ chạy mà không thực hiện cứu giúp nạn nhân thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự. Người thực hiện hành vi vi phạm này có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm tù.
Đối với hành vi chở hàng lậu, tùy tính chất mức độ và loại hàng hóa đối tượng trên vận chuyển, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự tương ứng theo quy định.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Căn cứ Điều 584 Bộ luật dân sự, quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Căn cứ nêu trên, trường hợp đối tượng trên có lỗi trực tiếp dẫn đến mẹ chị chết, thì người thân thích của mẹ chị có quyền yêu cầu đối tượng đó bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất (thiệt hại về tính mạng) và thiệt hại tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.
2.1. Đối với bồi thường thiệt hại về vật chất
Thiệt hại về vật chất trong trường hợp này là thiệt hại về tính mạng. Hiện nay Bộ luật dân sự năm 2015 không quy định chính xác về giá trị tài sản bồi thường thiệt hại về tính mạng, do đó các bên nên tự thỏa thuận mức bồi thường, trường hợp các bên không thể thỏa thuận được thì gia đình bị hại có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ để xác định mức bồi thường hợp lý được quy định tại Khoản 1 Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:
“Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.”
Ngoài ra, chị có thể tham khảo căn cứ xác định bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được hướng dẫn cụ thể tại Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
“Điều 7. Về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự
1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:
a) Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho người bị thiệt hại; thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở;
b) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án;
c) Chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là các chi phí cho việc phục hồi, hỗ trợ, thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.
2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định như sau:
a) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;
b) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.
Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.
3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự được xác định như sau:
a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi người bị thiệt hại điều trị (nếu có);
b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều này;
c) Trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và phải có người thường xuyên chăm sóc thì chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại.
Điều 8. Về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự được xác định như sau:
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự, được hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết này, được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm sức khỏe cho đến thời điểm người đó chết.
2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng đối với các khoản tiền: mua quan tài; chi phí hỏa táng, chôn cất; các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo phong tục, tập quán địa phương. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ.
3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng trước khi chết được xác định như sau:
a) Mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, nhưng không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng;
b) Thời điểm cấp dưỡng được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm về sức khỏe;
c) Đối tượng được bồi thường tiền cấp dưỡng là những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình”.
2.2 Bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm
Căn cứ Khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
“2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút tinh thần và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu. Việc bồi thường tổn thất về tinh thần do các bên tự thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án xem xét, tuy nhiên mức tối đa để bồi thường tổn thất về tinh thần sẽ không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2026 là 2.530.000 đồng).
3. Kiến nghị giải quyết.
Để có cơ sở xử lý, gia đình chị cần thiết phải trình báo ngay tới cơ quan công an nơi xảy ra hành vi vi phạm (tai nạn giao thông). Căn cứ tin báo, đơn tình báo, tố giác và kèm theo các chứng cứ, tài liệu ban đầu mà gia đình cung cấp, người làm chứng, phía cơ quan công an có căn cứ xác minh và xử lý theo quy định.
Chị có thể tham khảo mẫu đơn trình báo như sau:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
ĐƠN TRÌNH BÁO
Kính gửi: Công an ……………………………………………………………
Tôi tên là: …………………………………SĐT………………………………
CMND/CCCD số: …………………………………………………………….
Địa chỉ thường trú: ……………………………………………………………
Địa chỉ liên lạc: …………………………………………………………….….
Tôi làm đơn này xin trình báo với Quý cơ quan việc như sau:
…………………………………………………………………… (Miêu tả chi tiết hành vi vi phạm, các mốc thời gian liên quan đến vi phạm, tên, địa chỉ người vi phạm (nếu có))
Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, đồng thời ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nay tôi đề nghị Quý cơ quan xem xét các vấn đề sau đây:
1: ………………………………………………………………………………
2: ………………………………………………………………………………
3: ………………………………………………………………………………
(Ví dụ: - Đề nghị xem xét hành vi vi phạm pháp luật của…
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại về tính mạng, tinh thần theo quy định của pháp luật…)
Xin chân thành cảm ơn!
Tài liệu kèm theo:
……, ngày … tháng … năm……
Người làm đơn
Khi nộp kèm đơn trình báo, gia đình chị nên gửi kèm các chứng cứ, tài liệu gia đình có được. Trường hợp vụ án được khởi tố, khi trình bày lời khai/ ý kiến gia đình có thể đề nghị cơ quan chức năng xử lý nghiêm hành vi phạm tội theo quy định, đồng thời yêu cầu nghĩa vụ bồi thường về tính mạng của mẹ chị bị thiệt hại và bồi thường tổn thất về tinh thần theo như tư vấn tại mục 2. Khi tiến hành truy tố, xét xử cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét trách nhiệm hình sự của đối tượng trên và trách nhiệm dân sự (bồi thường) theo quy định của pháp luật./.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: