Thủ tục yêu cầu thi hành án khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ

Thủ tục yêu cầu thi hành án khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ

2026-04-05 21:43:50 1

Nội dung anh yêu cầu tư vấn: Kính gửi luật sư! Tôi (bên A) cho bạn (bên B) vay tiền nhưng bên B không trả. Tôi đã làm đơn ra tòa án nơi bạn cư trú. Thẩm phán đã thụ lý và bên B hứa sẽ thanh toán trong vòng 3 tháng tới. Nhưng sau đó bên B không thanh toán như đã ký trong văn bản. Tôi chuyển đơn sang bên thi hành án và bên đó đã làm việc với bên B. Bên B hứa sẽ thanh toán làm 2 đợt, mỗi đợt sẽ trả 50%. Tuy nhiên, đến hạn thì Bên B chỉ trả được 12%, đợt 2 trả tiếp 12% số tiền nợ. Từ đó đến nay bên B không trả tiếp đã 6 tháng. Phía tòa án đến làm việc nhưng bên B vẫn hứa xuống. Vậy tôi xin hỏi giờ tôi phải gửi đơn đến đâu để bên B thanh toán nốt số tiền còn lại? Trân trọng cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:


Theo như thông tin anh cung cấp thì có thể xác định Bản án đã tuyên hoặc Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã có hiệu lực pháp luật, không bị sửa hay bị hủy bản án nên các bên đương sự có nghĩa vụ phải chấp hành theo bản án này. Nếu như bị đơn tự nguyện chấp hành thì hai bên chỉ cần làm giấy thỏa thuận và nhờ Chấp hành viên chứng nhận. 

Trên thực tế, anh có làm đơn yêu cầu thi hành án gửi đến cơ quan thi hành án vì bên B đã không thực hiện tự nguyên các nghĩa vụ theo cam kết với Tòa án. Dựa trên các nội dung anh đã đưa ra thì chúng tôi hiểu tại thời điểm này cơ quan thi hành án chưa có quyết định thi hành án, bên anh và bên B vẫn thỏa thuận với nhau về thời gian thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Anh không phản đối tại thời điểm đó nên trên thực tế đã có thỏa thuận về thi hành án của các bên đương sự. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP thì:

“Trường hợp đương sự thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án thì thỏa thuận đó phải lập thành văn bản nêu rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia thỏa thuận. Đương sự có nghĩa vụ tự thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận.

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.”.

Căn cứ theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự 2008 thì: “Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.”

Vì thời hiệu yêu cầu thi hành án trong trường hợp của anh vẫn còn nên anh vẫn có thể đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án và sau đó tiến hành xác minh điều kiện thi hành án và thi hành án.

Trường hợp bên B được xác định là có đủ điều kiện để thi hành án nhưng đã trốn tránh không thực hiện có thể phải thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án. 

Căn cứ theo Điều 70 Luật thi hành án dân sự năm 2008 về căn cứ cưỡng chế thi hành án thì bao gồm các căn cứ sau:

“1. Bản án, quyết định;

2. Quyết định thi hành án;

3. Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án.”.

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự căn cứ theo Điều 71 Luật thi hành án 2008 bao gồm:

“1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.

3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.

4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.

5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.

6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.”. 

Ngoài ra bên B có thể chịu xử phạt vi phạm hành chính căn cứ theo Khoản 3 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP thì:

“Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định;

b) Không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;

c) Trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án;

d) Cung cấp chứng cứ sai sự thật cho cơ quan thi hành án dân sự.”.

Trong trường hợp này, anh có thể gửi đơn đến cho Cục trưởng cục thi hành án dân sự để yêu cầu giải quyết đối với trường hợp của mình. 

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi