Nội dung câu hỏi: Chào luật sư cho em hỏi người yêu em có liên quan đến vụ án mất cắp tài sản của công ty. Điều tra thì mức tiền bên thẩm định là 193 triệu đồng, có ba người liên quan đến vụ án. Người yêu em chỉ là đồng lõa chứ không trực tiếp lấy cắp. Người yêu em bị tạm giữ 2 tháng nay. Đến nay được hơn 2 tháng nhưng người nhà lên hỏi thông tin thì bên công an nói đang điều tra nên không cho biết thông tin gì và cũng không được thăm hỏi cũng không biết thông tin gì. Vậy luật sư cho em hỏi với tình trạng của người yêu em thì khi nào xét xử và khi nào được gặp mặt ạ. Mong luật sư phản hồi em chân thành cảm ơn.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

THỨ NHẤT, VỀ THỜI HẠN ĐIỀU TRA, XÉT XỬ
Theo thông tin chị cung cấp, người yêu chị đang bị tạm giam để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp là 193 triệu đồng. Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) với hành vi trộm cắp tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng thì mức hình phạt là từ 02 năm từ đến 07 năm tù và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.
Đối chiếu với trường hợp của chị, bạn chị đang bị khởi tố vụ án trộm cắp tài sản với giá trị 193.000.000 đồng, bạn chị không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, nếu cơ quan điều tra có chứng cứ chứng minh bạn chị là đồng phạm trong việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản này thì bạn chị vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xử lý trong khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù.
Về thời hạn điều tra với tội phạm nghiêm trọng, theo quy định tại Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định về thời hạn điều tra như sau:
“1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
…”
Theo quy định nêu trên thì thời hạn điều tra với tội phạm nghiêm trọng là 03 tháng, trong trường hợp cần gia hạn thì thời hạn điều tra với tội nghiêm trọng có thể được gia hạn 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng, lần thứ hai không quá 02 tháng. Như vậy, tổng thời gian điều tra với tội phạm nghiêm trọng là tối đa 08 tháng.
Thời hạn quyết định việc truy tố theo quy định tại Điều 240 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 là tối đa 30 ngày.
Đối với thời gian đưa vụ án ra xét xử: Theo quy định tại Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử là tối đa 60 ngày đối với tội nghiêm trọng tính từ ngày Tòa thụ lý vụ án. Kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử trong thời hạn tối đa 30 ngày.
Đối chiếu với trường hợp của chị, thời hạn tối đa bạn chị bị đưa ra xét xử sẽ là tổng thời gian điều tra tối đa (08 tháng) + thời gian quyết định truy tố (30 ngày) + thời gian chuẩn bị xét xử tối đa (60 ngày) + thời gian đưa vụ án ra xét xử (30 ngày).
THỨ HAI, VỀ VIỆC THĂM GẶP THÂN NHÂN TRONG THỜI GIAN ĐIỀU TRA
Tại Điều 22 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 có quy định về Việc gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam như sau:
“1. Người bị tạm giữ được gặp thân nhân một lần trong thời gian tạm giữ, một lần trong mỗi lần gia hạn tạm giữ. Người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng; trường hợp tăng thêm số lần gặp hoặc người gặp không phải là thân nhân thì phải được cơ quan đang thụ lý vụ án đồng ý. Thời gian mỗi lần gặp không quá một giờ.
…”
Căn cứ theo quy định nêu trên thì trong thời gian tạm giam, người bị tạm giam được gặp thân nhân một lần trong một tháng.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp người bị tạm giam có thể không được gặp thân nhân, cụ thể nếu thuộc một trong các trường hợp được liệt kê tại Khoản 4 Điều 22 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam như sau:
“4. Thủ trưởng cơ sở giam giữ không đồng ý cho thăm gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong các trường hợp sau đây và phải nêu rõ lý do:
a) Thân nhân không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ xác nhận về quan hệ với người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam gặp thân nhân do thấy có ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án; người bào chữa không xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy tờ về việc bào chữa cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam;
b) Trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ an toàn cơ sở giam giữ hoặc để tổ chức truy bắt người bị tạm giữ, người bị tạm giam bỏ trốn;
c) Khi có dịch bệnh xảy ra tại khu vực có cơ sở giam giữ;
d) Khi cấp cứu người bị tạm giữ, người bị tạm giam hoặc khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;
đ) Khi đang lấy lời khai, hỏi cung hoặc người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang tham gia các hoạt động tố tụng khác;
e) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam không đồng ý thăm gặp; trường hợp này, người thăm gặp được trực tiếp gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc không đồng ý thăm gặp;
g) Người đến thăm gặp cố ý vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ từ hai lần trở lên;
h) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam đang bị kỷ luật theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này.
…”
Như vậy, đối chiếu với trường hợp của chị, theo quy định người yêu chị trong thời gian bị tạm giam sẽ được gặp thân nhân 01 lần /tháng. Tuy nhiên, nếu việc gặp thân nhân của người yêu chị gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc giải quyết vụ án và được cơ quan đang thụ lý vụ án có văn bản đề nghị không cho người đang tạm giam gặp thân nhân hoặc thuộc các trường hợp đã liệt kê trên thì người yêu chị sẽ không được gặp thân nhân trong thời gian điều tra.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: