Thời gian đào tạo ngoài giờ có được coi là giờ làm việc để tính lương?

Thời gian đào tạo ngoài giờ có được coi là giờ làm việc để tính lương?

2026-03-31 10:36:56 3

Nội dung: Công ty tôi chuẩn bị tổ chức khóa học tiếng Anh cho nhân viên. 

  1. Chi phí khóa học do công ty chi trả. Tuy vậy, trước khi tham gia nhân viên phải cam kết bằng kết quả học, chuyên cần, có báo cáo ứng dụng sau đào tạo. Nếu không đạt nhân viên sẽ tự chi trả học phí những buổi đã học cho Công ty. Để đảm bảo hiệu quả chi phí khóa học đã đầu tư.
  2. Mặc dù nhân viên tự nguyên đăng ký bằng Đơn, đồng thời cam kết các điều kiện phải đạt được sau khóa học (Bản đăng ký file đính kèm). Nhưng một khi đã quyết định tham gia khóa hoc là phải cam kết như nói ở 1.
  3. Thời gian đào tạo là sau giờ làm việc tiêu chuẩn. Thời gian đào tạo không tính vào thời gian làm việc (không tính lương tăng ca), ghi rõ thông báo. 

Với 3 dữ kiện trên, xin hỏi:

  1. Trong trường hợp này, Thời gian đào tạo là sau giờ làm việc, không tính là thời gian làm thêm, và không tính lương, thì có đúng luật không?
  2. Trường hợp có nhân viên cho rằng: Cty tổ chức khóa học, khi nv đăng ký tham gia yêu cầu nhân viên cam kết học đầu ra, nếu không đạt phải tự chi trả khóa học. Như vậy là do công ty yêu cầu chúng tôi phải học, thì thời gian học phải tính vào thời gian làm việc, được tính lương làm thêm.
  3. Có rủi ro gì về Luật không? Nếu có rủi ro, thì công ty cần xử lý như nào để giờ đào tạo đó không tính vào giờ làm việc..

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

I. THỜI GIAN ĐÀO TẠO SAU GIỜ LÀM VIỆC CÓ ĐƯỢC TÍNH VÀO THỜI GIAN LÀM VIỆC VÀ CÓ ĐƯỢC HƯỞNG LƯƠNG KHÔNG?

Căn cứ tại Điều 58 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định về thời giờ được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương như sau:

“Điều 58. Thời giờ được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương

1. Nghỉ giữa giờ quy định khoản 2 Điều 64 Nghị định này.

2. Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc.

3. Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người.

4. Thời giờ nghỉ đối với lao động nữ khi mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trong thời gian hành kinh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 137 của Bộ luật Lao động.

5. Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động.

6. Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý.

7. Thời giờ người học nghề, tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 61 của Bộ luật Lao động.

8. Thời giờ mà người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 176 của Bộ luật Lao động.

9. Thời giờ khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, giám định y khoa để xác định mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nếu thời giờ đó được thực hiện theo sự bố trí hoặc do yêu cầu của người sử dụng lao động.

10. Thời giờ đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự, nếu thời giờ đó được hưởng nguyên lương theo quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự.”.

Khoản 5 Điều 61 Bộ luật lao động 2019 quy định: 

“5. Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận.”.

Theo quy định nêu trên thì đối với trường hợp người lao động tham gia học nghề, tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.

Dựa trên thông tin chị cung cấp và đối chiếu với quy định trên, thời gian người lao động tham gia khóa đào tạo tiếng anh là thời gian ngoài thời giờ làm việc bình thường của người lao động, đồng thời người lao động không trực tiếp hoặc tham gia lao động trong thời gian đào tạo. Do vậy, thời gian này không được tính là thời gian làm việc có hưởng lương (tức cũng không được tính là thời gian làm thêm giờ). 

II. VỀ VIỆC TỰ CHI TRẢ CHI PHÍ KHÓA HỌC NẾU KHÔNG ĐẠT YÊU CẦU

Căn cứ theo quy định tại Điều 62 BLLĐ 2019 thì NLĐ và NSDLĐ phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề và thỏa thuận về chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo.

Như vậy, trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo sẽ trên cơ sở hai bên thỏa thuận. Vì vậy, hai bên thỏa thuận trường hợp NLĐ tự ý bỏ học, không đạt kết quả của khóa học…thì có nghĩa vụ hoàn trả chi phí đào tạo là không trái quy định của pháp luật. 

Mục đích của việc đào tạo là nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động dựa trên thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ. Do đó, trong trường hợp này cũng không thể suy luận là công ty yêu cầu (bắt buộc) người lao động phải tham gia khóa học để tính tiền lương làm thêm giờ.

Lưu ý về một số điểm quan trọng trong hợp đồng đào tạo như sau:

- Xác định rõ loại nghề được đào tạo, trình độ được đào tạo ở cấp độ nào, loại bằng cấp, chứng chỉ hoặc kết quả đạt được sau khóa đào tạo.

-  Các bên phải thỏa thuận và ghi rõ các chi phí làm cơ sở xác định trách nhiệm. Các chi phí nên ghi rõ chi tiết từng khoản chi cụ thể,

-  Trong hợp đồng ghi rõ thời gian người lao động cam kết làm việc cho công ty sau khi kết thúc khóa đào tạo để xác định trách nhiệm đối với trường hợp người lao động khi vi phạm cam kết làm việc. (nếu có)

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Từ khóa:  Làm thêm giờ

,  

thời gian đào tạo

,  

,  

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi