Hiện mình đang góp vốn chung với 3 người mở 1 nhà hàng. Tỷ lệ là chia 3 từ tiền cọc thuê nhà, góp vốn đầu tư cho đến lãi. Tổng tiền cọc là 1 tỷ 2, tiền góp vốn để làm lại nhà hàng từ nội thất đến mua đồ là 2 tỷ 4. Kể từ khi khai trương là 3 bên không có góp vốn thêm lần nào mà sử dụng luôn tiền doanh thu vào hàng ngày làm chi phí mua nguyên liệu cũng như vận hành. Hiện số tiền trong tài khoản của nhà hàng là còn khoảng 1 tỷ. Bọn mình cũng xác định mở thêm chi nhánh nữa nên tiền như thế nào bọn mình để nguyên vậy và không chia lãi từ khi thành lập. Nhà hàng đã mở được 1 năm 3 tháng.
Hiện 1 người vì có dự án kinh doanh riêng nên muốn rút vốn về. Cho mình hỏi trong trường hợp này thì hoàn lại vốn như thế nào và chia ra sao. 3 người vì là rất thân thiết nên góp vốn hoàn toàn bằng miệng, không có giấy tờ hợp đồng giao kèo gì giữa cả 3 cả. Vì muốn để công bằng và thuận tình nên mình đang muốn tìm cách hợp lý và công bằng nhất. Mong luật sư tư vấn.
Sau này nếu người rút vốn đó muốn mở riêng 1 nhà hàng mang chính tên nhà hàng của chúng mình thì được không? vì họ cũng là đồng sáng lập. và khi mở riêng như vậy thì vấn đề về thương hiệu có cần phải quy định gì với nhau không để tránh làm tổn hại thương hiệu chung
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:
.jpg)
Thứ nhất, về phạm vi áp dụng đối với quan hệ có yếu tố nước ngoài:
Căn cứ theo Điều 663 Bộ luật dân sự 2015 thì:
“Điều 663. Phạm vi áp dụng
1. Phần này quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trường hợp luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không trái với quy định từ Điều 664 đến Điều 671 của Bộ luật này thì luật đó được áp dụng, nếu trái thì quy định có liên quan của Phần thứ năm của Bộ luật này được áp dụng.
2. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
…
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Đối với trường hợp của chị, các bên tham gia đều là công dân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài và thuộc trường hợp được áp dụng Bộ luật dân sự 2015 để xem xét giải quyết, với điều kiện quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhưng không trái với quy định của Bộ luật thì luật dân sự.
Thứ hai, về việc thỏa thuận phân chia vốn góp:
Theo thông tin chị cung cấp, 3 người mở 1 nhà hàng, tỷ lệ là chia 3. Việc góp vốn hoàn toàn bằng miệng, không có giấy tờ hợp đồng. Hiện 1 người có dự án kinh doanh riêng nên muốn rút vốn.
Trường hợp các bên góp vốn có thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật nước ngoài, thì tuân thủ quy định của pháp luật nước ngoài để thực hiện thủ tục rút vốn. Trường hợp không đăng ký doanh nghiệp, các bên hợp tác dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (thỏa thuận miệng) thì căn cứ thỏa thuận đó để phân chia, việc rút vốn sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào thỏa thuận của 3 bên sao cho phù hợp nhất với công sức và tài sản mà các bên bỏ ra.
Pháp luật Việt Nam có quy định tại khoản 2 Điều 510 Bộ luật dân sự 2015 như sau:
“1. Thành viên có quyền rút khỏi hợp đồng hợp tác trong trường hợp sau đây:
a) Theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác;
b) Có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác.
2. Thành viên rút khỏi hợp đồng hợp tác có quyền yêu cầu nhận lại tài sản đã đóng góp, được chia phần tài sản trong khối tài sản chung và phải thanh toán các nghĩa vụ theo thỏa thuận. Trường hợp việc phân chia tài sản bằng hiện vật làm ảnh hưởng đến hoạt động hợp tác thì tài sản được tính giá trị thành tiền để chia.
Việc rút khỏi hợp đồng hợp tác không làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ của người này được xác lập, thực hiện trước thời điểm rút khỏi hợp đồng hợp tác.
3. Việc rút khỏi hợp đồng hợp tác không thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều này thì thành viên rút khỏi hợp đồng được xác định là bên vi phạm hợp đồng và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.”
Như vậy, pháp luật trao lại quyền thảo thuận cho các thành viên hợp tác, cụ thể việc rút khỏi Hợp đồng hợp tác phải đáp ứng các điều kiện: Theo điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác; Có lý do chính đáng và được sự đồng ý của hơn một nửa tổng số thành viên hợp tác.
Thành viên rút vốn có quyền yêu cầu nhận lại tài sản đã đóng góp, được chia phần tài sản trong khối tài sản chung và phải thanh toán các nghĩa vụ theo thỏa thuận. Trường hợp việc phân chia tài sản bằng hiện vật làm ảnh hưởng đến hoạt động hợp tác thì tài sản được tính giá trị thành tiền để chia.
Để tiến hành phân chia, các bên phải xác định:
- Phần vốn đã góp của thành viên rút ra;
- Tài sản chung hình thành từ việc hợp tác kinh doanh;
- Các nghĩa vụ phải thanh toán theo thỏa thuận.
Tại điều 506 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tài sản chung của các thành viên hợp tác như sau:
- Tài sản do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập và tài sản khác theo quy định của pháp luật là tài sản chung theo phần của các thành viên hợp tác.
Trường hợp có thỏa thuận về góp tiền mà thành viên hợp tác chậm thực hiện thì phải có trách nhiệm trả lãi đối với phần tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 và phải bồi thường thiệt hại.
- Việc định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên;
Việc định đoạt tài sản khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Không được phân chia tài sản chung trước khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, trừ trường hợp tất cả các thành viên hợp tác có thỏa thuận.
Việc phân chia tài sản chung quy định tại khoản này không làm thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ được xác lập, thực hiện trước thời điểm tài sản được phân chia.
Ngoài ra tại Điều 504 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.
Như vậy, Trường hợp các bên không tự thỏa thuận được việc rút khỏi hợp tác, nhằm đảm bảo công bằng, minh bạch. Các bên có thể cho thành viên còn lại rút vốn theo trình tự sau:
Bước 1: Thuê bên thứ 3 có chuyên môn để xác định giá trị cơ sở kinh doanh (Bao gồm nhưng không giới hạn bởi các tài sản sau: Tài sản góp vốn, tài sản tạo lập, giá trị thương hiệu, công nợ …)
Bước 2: Xác định tỷ lệ phân chia (chia đều hoặc theo tỷ lệ góp vốn ban đầu)
Bước 3: Phân chia, trả vốn (hoặc góp bù – nếu kinh doanh thua lỗ)
Thứ ba, về quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu:
Việc người rút vốn muốn mở riêng 1 nhà hàng mang chính tên nhà hàng của các bên đang kinh doanh thì sẽ căn cứ vào các trường hợp như sau:
- Trường hợp thứ nhất, nhà hàng chưa đăng ký nhãn hiệu/ thương hiệu tại cơ quan có thẩm quyền thì người rút vốn mở riêng 1 nhà hàng mang tên nhà hàng cũ thì có thể xác định không vi phạm. Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này các bên cần phải thỏa thuận rõ trong biên bản rút vốn hoặc cam kết của người rút vốn, bản chất khi rút vốn trong đó có xác định giá trị thương hiệu, nên việc sử dụng chính thương hiệu đó mang ra kinh doanh riêng là không phù hợp với tinh thần của thỏa thuận hợp tác kinh doanh đã nêu.
- Trường hợp thứ hai, cơ sở kinh doanh đã đăng ký nhãn hiệu/thương hiệu thì có cơ sở để xác định chủ sở hữu nhãn hiệu do vậy việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: