Quyền thừa kế tài sản của ông bà nội khi bố?

Quyền thừa kế tài sản của ông bà nội khi bố?

2026-07-12 21:37:31 2

Nội dung yêu cầu tư vấn: Ông bà nội mình của mình đã qua đời (ông mất năm 2003, bà mất năm 2008), có để lại 1 miếng đất đứng tên ông bà. Ông bà không để lại di chúc dưới bất cứ hình thức nào. Ông bà có 6 người con, trong đó 1 người đã mất khi còn nhỏ (mình xin phép gọi là A, B, C, D, E). Trong 5 người kia thì 4 người cũng đã qua đời. Thông tin mỗi người như sau:

  1. Bác D qua đời năm 2002, hiện còn vợ bác và 3 người con còn sống
  2. Người E - bố mình, mất năm 2004, hiện còn vợ và 2 người con còn sống
  3. Bác A, qua đời năm 2012, hiện còn 3 người con còn sống
  4. Bác C, qua đời năm 2015, hiện còn vợ bác và 3 người con còn sống. 

Về tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất, theo như bác B kể thì quyền sử dụng đất vẫn đang đứng tên ông bà. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đang là bản cũ, và hiện tại thì 1 anh của bác C đang giữ giấy này. Người này hiện đang sinh sống ở Ninh Thuận, còn miếng đất mình đề cập thì đang ở Hà Tĩnh. Người anh này của mình thì hiện tại không có thiện chí trong việc chia đất. Ngoài ra, những người bác và anh chị con các bác đã mất thì không có ý định tranh chấp miếng đất. Đa số đều sẽ đứng về phía mình nếu tranh chấp xảy ra.

Về tình trạng miếng đất, hiện tại chỉ có 1 ngôi nhà nhỏ làm nhà thờ, hiện tại không có ai sinh sống ở đây (có thể gọi là hơi đất hoang). Vậy mình muốn Văn phòng xem xét tư vấn giúp mình các vấn đề sau:

1. Trong trường hợp mình đạt được thỏa thuận với người anh đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kia, các thủ tục mình cần thực hiện là gì để sang tên, chuyển nhượng được miếng đất đó, với 3 trường hợp

1.1. Mọi người đồng ý sang tên lại cho mình và anh đó, 2 người sẽ tiến hành tách thửa

1.2. Mọi người đồng ý sang tên lại cho chỉ mình thôi

1.3. Mình và anh kia cùng đứng tên quyền sử dụng đất

Thời gian thường sẽ trong bao lâu ạ? (với tình trạng hiện tại là các anh em đang ở 3-4 tỉnh thành khác nhau).

2. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, mình sẽ cần xử lý vấn đề này như thế nào thông qua tòa án ạ? 

2.1. Mình được biết là khi nộp hồ sơ lên tòa án về vấn đề phân chia di sản thì cần hồ sơ chứng minh tài sản đó, nhưng giờ anh họ mình đang cầm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mình có thể nộp hồ sơ lên tòa án không ạ?

2.2. Theo điểm 2, điều 623, Bộ luật dân sự năm 2015 thì: "Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.", điều này có nghĩa là gì ạ. Từ lúc ông bà mình mất đến giờ mình chưa làm thủ tục này, vậy mình có quyền nộp hồ sơ ra tòa án không ạ? Liệu có cần giấy tờ để chứng minh minh rằng mình là con của bố mình (ok cái này mình có) hoặc chứng minh bố mình là con của ông bà mình không ạ (cái này thì mình chưa chắc là đã có do giấy tờ thất lạc)

2.3. Xin luật sư tư vấn giúp mình trình tự nộp hồ sơ lên tòa án, hồ sơ bao gồm những gì, nộp tòa án nào với ạ.

3. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, cũng không tiến hành nộp hồ sơ lên tòa án, mà chỉ về đó xây nhà và ở đó, thì liệu có căn cứ nào mình chiếm hữu quyền sử dụng đất đó không ạ? (Chiếu theo điểm 1, điều 623 BLDS 2015).

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

1. Thủ tục chia thừa kế và thực hiện việc sang tên, chuyển quyền sử dụng đất.

Căn cứ theo quy định tại Điều 650 Bộ luật dân sự 2015 quy định những trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì áp dụng thừa kế theo pháp luật. Trường hợp gia đình anh, ông bà nội mất không để lại di chúc vì vậy phần di sản thừa kế của ông bà nội sẽ được chia thừa kế cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau....”

Theo đó những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của ông bà nội anh bao gồm các con của ông bà nội anh (5 người con), và được hưởng phần di sản bằng nhau.

Việc chia thừa kế của ông, bà anh được xác định như sau:

Phần của ông nội: Vì ông nội mất trước bà nội, nên khi ông nội mất đã phát sinh quyền thừa kế với khối di sản của ông nội (1/2 giá trị mảnh đất) trong khối tài sản chung vợ chồng. Và thời điểm ông mất (mất năm 2003) thì con trai D (mất năm 2002) mất trước thời điểm ông nội anh mất nên sẽ phát sinh hàng thừa kế thế vị, tức các con của D thuộc hàng thừa kế thế vị phần di sản mà D được hưởng nếu D còn sống tại thời điểm ông mất.

Như vậy, xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông nội anh bao gồm: vợ (bà nội), 4 người con còn sống ( A, B, C, E) và các con của D 

Phần của bà nội: Đến năm 2008 bà nội mất, phần di sản của bà để lại (1/2 giá trị mảnh đất + 1/5 giá trị mảnh đất bà được hưởng từ phần của ông nội) được chia theo pháp luật và chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà nội. Thời điểm bà nội mất, con E chết trước (chết 2004). Như vậy, hàng thừa kế được hưởng di sản của bà Nội gồm: A, B, C và các con của D, các con của E.

Đến thời điểm hiện tại thì A, C, D, E đã chết, B sống nên những người có quyền đối với tài sản được đứng ra để yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông bà nội gồm: Người thừa kế của A, C, các con của D, E và B).

Những người được hưởng di sản thừa kế của ông bà Nội có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Trường hợp những người thuộc hàng thừa kế từ chối nhận di sản thì văn bản này được Công chứng tại UBND xã/phường hoặc Văn phòng công chứng.

Theo nội dung câu hỏi anh nêu, trường hợp tất cả những người thừa kế đều từ chối nhận di sản và để lại toàn bộ di sản cho anh và anh họ thì cần có thỏa thuận bằng văn bản có công chứng/chứng thực việc từ chối này. Đồng thời 2 người sẽ thỏa thuận với nhau bằng văn bản có công chứng/chứng thực về việc cùng đứng đồng sở hữu mảnh đất hoặc tách thửa mảnh đất.

Thành phần hồ sơ gia đình cần chuẩn bị nộp ra UBND/Văn phòng công chứng gồm:

  • Đơn đề nghị khai nhận di sản thừa kế/Đơn thỏa thuận phân chia thừa kế;
  • Giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh ông, bà nội đã chết;
  • Giấy chứng tử của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất mà đã chết;
  • Sơ yếu lý lịch/xác nhận về nhân thân của những người nhận di sản thừa kế để chứng minh đủ điều kiện hưởng di sản thừa kế theo pháp luật (có thể là giấy khai sinh, sổ hộ khẩu,…);
  • CMND/sổ hộ khẩu của những người thừa kế;
  • Giấy tờ chứng minh về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản;
  • Và các giấy tờ khác theo yêu cầu khi công chứng/chứng thực

Sau khi hoàn tất thủ tục chia thừa kế tại UBND/Văn phòng công chức thì căn cứ theo văn bản thỏa thuận chia thừa kế anh hoặc cả anh và anh họ sẽ nộp hồ sơ lên Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất để đăng ký sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 

Hồ sơ nộp cho Văn phòng đăng ký đất đai bao gồm:

  • Đơn đăng ký biến động đất đai theo Mẫu;
  • Văn bản khai nhận di sản;
  • Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp;
  • Giấy chứng tử của ông bà nội;
  • Chứng minh nhân dân của anh và anh họ;
  • Và các giấy tờ khác theo yêu cầu của cơ quan đăng ký đất đai

Thời hạn thực hiện thủ tục sang tên không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.

2. Những người thừa kế có tranh chấp chia di sản thừa kế

Trong trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và có tranh chấp di sản thừa kế thì anh hoặc một trong những người thừa kế khác của ông bà nội anh có quyền làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp khu vực nơi có bất động sản yêu cầu phân chia thừa kế theo pháp luật. 

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

  • Đơn khởi kiện;
  • Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại di sản: Giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân;
  • Giấy khai sinh, chứng minh thư nhân dân của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, hàng thừa kế thế vị;
  • Giấy chứng tử của ông bà anh;
  • Giấy chứng tử của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đã chết;
  • Bản kê khai di sản;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
  • Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (nếu có), văn bản từ chối nhận di sản (nếu có);

Trường hợp người anh họ không cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng và tài sản gắn liền với đất thì gia đình anh có thể tiến hành xin trích lục thửa đất tại UBND huyện nơi có đất để chứng minh mảnh đất này thuộc sở hữu của ông bà nội và nộp bổ sung vào hồ sơ khởi kiện. Các giấy tờ chứng minh quan hệ nhận thân có thể dùng là giấy khai sinh. Trường hợp không có các giấy tờ này có thể tới UBND/công an khu vực xin trích lục hoặc xác nhận mối quan hệ.

3. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

Khoản 2 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: 

“2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

Bộ luật Dân sự quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Quy định này có ý nghĩa xác định thời hiệu khởi kiện của người thừa kế: Đối với người thừa kế, quyền yêu cầu chia di sản, quyền yêu cầu xác nhận quyền thừa kế là của chính bản thân họ; quyền yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Khi kết thúc thời hạn này thì người thừa kế mất quyền khởi kiện.

Thời hiệu khởi kiện quyền thừa kế không tính thời gian sau đây vào thời hiệu khởi kiện. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện:

  • Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể thực hiện khởi kiện được trong phạm vi 10 năm.
  • Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
  • Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự bị chết.

Căn cứ điều 611 Bộ luật dân sự 2015 thời điểm mở thừa kế được xác định là thời điểm người có tài sản chết.

“Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này....”

Như anh nêu có thể thấy gia đình chưa làm thủ tục mở thừa kế và phân chia di sản thừa kế. Pháp luật dân sự hiện nay không có quy định về thời hạn mở thừa kế mà chỉ có quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu phân chia di sản thừa kế được quy định tại điều 623 Bộ luật dân sự 2015 xác định thời hiệu là 30 năm.

“Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

....”

Do đó những người thừa kế có yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo pháp luật thì cần khởi kiện ra tòa án và những người thừa kế hợp pháp của ông bà nội đều có quyền khởi kiện, trình tự và thủ tục theo hướng dẫn tại phần 2.

4. Xác định di sản thừa kế theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015,

Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này”.

Theo đó, pháp luật quy định người thừa kế có quyền yêu cầu chia thừa kế khối di sản của người chết để lại trong thời hạn 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản. Hết thời hạn trên mà những người thừa kế không thực hiện việc chia di sản thừa kế thì di sản thuộc về người thừa kế đang quả lý di sản đó. 

Pháp luật đã dự liệu ba trường hợp khi hết thời hiệu thì di sản thừa kế được định đoạt như sau:

  • Hết thời hiệu mà di sản do người thừa kế chiếm hữu thì thuộc quyền sở hữu của người thừa kế.
  • Nếu di sản không phải do người thừa kế chiếm hữu theo Điều 236 thì người đó xác lập quyền sở hữu với điều kiện việc chiếm hữu của người này là chiếm hữu ngay tình;
  • Hết thời hiệu mà do người chiếm hữu không ngay tình thì di sản thuộc về Nhà nước.

Đối chiếu với trường hợp của anh, nếu gia đình anh không khởi kiện ra Tòa, không tiến hành phân chia thừa kế đối với khối di sản do ông bà nội anh để lại mà để cho một người (ví dụ là anh) đứng ra quản lý khối tài sản đó, anh xây dựng nhà cửa và ở đó không ai phản đối, nếu hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế (hết 30 năm) mà các đồng thừa kế không tiến hành phân chia thừa kế thì tài sản đó sẽ thuộc về người quản lý đó (thuộc về anh)./.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi