Xin chào Công ty Luật, tôi được biết quý công ty có uy tín trong việc tư vấn và giải quyết nhiều trường hợp liên quan đến quyền lợi của người có công với Cách mạng. Tôi xin sơ lược về bản thân như sau:
-
Tôi sinh năm 1956, giới tính nam.
-
Tôi nhập ngũ từ tháng 12/1971, từng học tập và làm việc tại đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng với chức vụ công nhân quốc phòng.
-
Tháng 5/1975 tôi tham gia tiếp quản Thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức vụ giáo viên khoa vũ khí.
-
Từ năm 1976 đến 1985 tôi lần lượt công tác tại các nhà máy quốc phòng, đảm nhiệm nhiều vị trí từ công nhân quốc phòng đến sĩ quan cấp bậc chuẩn úy.
-
Giai đoạn 1988–1991 tôi được cử làm đoàn trưởng đi Tiệp Khắc lao động, tham gia lắp ráp máy bay chiến đấu.
-
Từ năm 1991 đến 1998 tôi tiếp tục làm việc tại nhà máy quốc phòng và sau đó nghỉ theo chế độ một lần
-
Từ năm 1998 đến nay tôi tham gia Hội cựu chiến binh doanh nhân và một số hội khác, giữ chức danh hội phó. Tôi không được hưởng bất cứ chế độ trợ cấp nào.
Trong suốt quá trình phục vụ quân đội, tôi không bị kỷ luật, chưa nhận huân chương hay trợ cấp nào, mặc dù có tham gia trước năm 1975 và chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979.
Tôi muốn hỏi, với quá trình hoạt động và công tác như trên, theo quy định pháp luật hiện hành, tôi có thể được hưởng chế độ ưu đãi hoặc trợ cấp nào dành cho người có công với Cách mạng.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:
.jpg)
Theo thông tin chú cung cấp, chú có thời gian tham gia quân ngũ từ tháng 5/1971, trong quá trình phục vụ quân đội chú có tham gia hoạt động, công tác ở rất nhiều các chức vụ khác nhau như sĩ quan, công nhân quốc phòng, viên chức… Do đó, trường hợp của chú để xác định chú có được hưởng chế độ ưu đãi với người có công hay không thì cần căn cứ theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi với người có công với Cách mạng 2005, sửa đổi, bổ sung 2012.
Thứ nhất, chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng;
Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công với Cách mạng 2005 có quy định về đối tượng hưởng chế độ ưu đãi với người có công với Cách mạng như sau:
“1. Người có công với cách mạng:
a) Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;
b) Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;
c) Liệt sĩ;
d) Bà mẹ Việt Nam anh hùng;
đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
h) Bệnh binh;
i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;
m) Người có công giúp đỡ cách mạng.”
Như vậy, chú có thời gian tham gia phục vụ quân đội từ năm 1971 thuộc giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do đó, căn cứ theo các đối tượng được quy định tại Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có công, chú có thể thuộc đối tượng được hưởng chế độ theo quy định tại điểm m hoặc điểm l đã nêu trên. Cụ thể như sau:
- Đối với đối tượng người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.
Điều 30 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định như sau: “Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Điều 31 của Pháp lệnh này là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến.”
Theo quy định trên thì người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế để được hưởng chế độ ưu đãi phải là người tham gia kháng chiến, đã được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến.
Với trường hợp của chú, chú có tham gia kháng chiến nhưng chưa được tặng Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến do vậy chú không thuộc trường hợp được hưởng chế độ trợ cấp đối với đối tượng này.
- Đối với đối tượng người có công giúp đỡ cách mạng.
Điều 32 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định như sau:
“Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm:
1. Người được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước"
2. Người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945;
3. Người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến;
4. Người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến.”
Đối với đối tượng người có công giúp đỡ cách mạng để được hưởng chế độ thì phải là người có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và đã được tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “có công với nước” hoặc “Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến.
Theo thông tin chú cung cấp, đến nay chú chưa từng được tặng một trong các danh hiệu đã nêu trên do đó, trường hợp này chú cũng không thuộc đối tượng được hưởng chế độ theo quy định này.
Thứ hai, một số chế độ khác chú có thể được hưởng.
Với quá trình công tác của chú từ năm 1971 đến năm 1998, chúng tôi xác định chú có thể thuộc đối tượng hưởng chế độ ưu đãi đối với quân nhân trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước (theo quy định tại Nghị định 159/2006/NĐ-CP và Nghị định 11/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 159/2006/NĐ-CP).
Điều 2 Nghị định số 11/2011/NĐ-CP hướng dẫn bổ sung Nghị định số 159/2006/NĐ-CP có quy định về đối tượng được hưởng chính sách theo Nghị định này như sau:
“1. Đối tượng được thực hiện chế độ hưu trí hàng tháng quy định tại Điều 1 Nghị định này là quân nhân nhập ngũ từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 trở về trước có 20 năm trở lên phục vụ quân đội, hiện không thuộc diện đang được hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động hoặc chế độ bệnh binh hàng tháng, thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 01 tháng 4 năm 2000;
b) Thương binh bị suy giảm khả năng lao động 81% trở lên đang điều trị tại các trung tâm điều dưỡng thương binh hoặc từ trung tâm điều dưỡng thương binh đã về gia đình trước ngày 01 tháng 4 năm 2000;
c) Quân nhân chuyển ngành hoặc chuyển sang công nhân viên chức quốc phòng rồi thôi việc trước ngày 01 tháng 01 năm 1995; đã có quyết định chuyển ngành trước ngày 01 tháng 4 năm 2000 nhưng không thực hiện được hoặc quân nhân đã về địa phương mà chưa giải quyết chế độ phục viên, xuất ngũ;
d) Quân nhân phục viên, xuất ngũ đi lao động hợp tác quốc tế hoặc được cử đi lao động hợp tác quốc tế về nước đã phục viên, xuất ngũ trước ngày 01 tháng 4 năm 2000.
2. Đối tượng không áp dụng
Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này không được hưởng chế độ quy định tại Nghị định này thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đào ngũ, đầu hàng, phản bội, chiêu hồi;
b) Vi phạm pháp luật đang chấp hành án tù chung thân; đang thi hành án tù giam; bị kết án về một trong các tội về xâm phạm an ninh quốc gia mà chưa được xóa án tích;
c) Xuất cảnh trái phép hoặc đang bị tòa án tuyên bố là mất tích.”.
Điều 1 Mục I Thông tư liên tịch 69/2007 có quy định về đối tượng áp dụng như sau:
“…Thời gian phục vụ trong quân đội bao gồm thời gian là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ và công nhân viên chức quốc phòng. Thời gian phục vụ quân đội nếu có đứt quãng thì được cộng dồn.”
Như vậy, theo quy định trên, đối với những đối tượng có thời gian tham gia quân ngũ từ trước ngày 30/04/1975 và có thời gian phục vụ quân đội trên 20 năm thì có thể được hưởng chế độ hưu trí theo Điều 3 Nghị định 159/2006/NĐ-CP.
Đối chiếu với trường hợp của chú, chú bắt đầu tham gia nhập ngũ từ tháng 12/1971 và có thời gian phục vụ trong quân đội từ đó đến năm 1998 với nhiều chức danh như sỹ quan, công nhân quốc phòng, viên chức…. Thời gian phục vụ trong quân đội của chú tính từ năm 1971 đến năm 1998 là hơn 20 năm. Nếu hiện nay chú không đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động và thuộc một trong các đối tượng đã nêu trên thì chú có thể được hưởng chế độ trợ cấp đối với đối tượng tham gia kháng chiến trước ngày 30/4/1975.
Hiện nay một số văn bản pháp luật do nhà nước ban hành liên quan đến vấn đề giải quyết chế độ đối với các đối tượng tham gia hoạt động trong quân đội, tham gia kháng chiến trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước không được cập nhật trên toàn bộ hệ thống tra cứu các văn bản pháp luật do đó chúng tôi gặp khó khăn trong vấn đề tìm kiếm, tiếp cận và kiểm tra tất cả các loại chế độ, trợ cấp khác có thể áp dụng đối với trường hợp của chú.
Do vậy, để đảm bảo tối đa quyền lợi chú được hưởng, chú có thể tham khảo nội dung văn bản đã được nêu trên và liên hệ với Sở lao động thương binh và xã hội Thành phố Hồ Chí Minh để yêu cầu xem xét cụ thể đối với trường hợp của mình.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: