Quyền lợi khi bỏ tiền xây nhà trên đất có sổ đỏ mang tên bố mẹ

Quyền lợi khi bỏ tiền xây nhà trên đất có sổ đỏ mang tên bố mẹ

2026-04-06 22:23:05 2

Nội dung anh yêu cầu tư vấn: Nhà tôi có 4 anh chị em, 2 trai, 2 gái hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng: Vợ chồng tôi có 2 con gái sống ở HN. Vợ chồng Anh cả có một con trai ở cùng bố mẹ tôi ở quê. Năm 2010, do vợ chồng anh cả đau thường xuyên ốm đau, nên vợ chồng tôi đã bỏ tiền xây dựng căn biệt thự trên lô đất của ông bà vừa là để ông bà cùng anh chị ở đỡ vất vả, vừa là để chổ vợ chồng tôi đi về chăm sóc bố mẹ và anh chị. Mục tiêu sau này về già cũng sẽ về ở cùng để chăm sóc bố mẹ và anh chị. Hiện cháu trai con anh cả đã trưởng thành và sinh sống trong Sài Gòn. Tương lai có thể không về quê ở. Bố mẹ tôi cũng đã già. Sổ đỏ gia đình Bố mẹ tôi đã sang tên cho anh trai tôi. Tôi đang lo ngại nếu sau này bố mẹ tôi mất. Khi sổ đỏ đã sang tên cho Anh trai tôi và Anh trai tôi vào Sài gòn sinh sống, Anh trai và cháu sẽ bán nhà ở quê. Tôi muốn được Tư vấn về việc Bố mẹ tôi cần lập di chúc thế nào để đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng tôi: Người bỏ tiền xây căn biệt thự (tương đương giá trị lô đất của Bố mẹ tại thời điểm xây) và được cả nhà (bố mẹ và anh chị cả đồng thuận), Đảm bảo quyền định đoạt tài sản của tôi (nếu anh và cháu quyết định bán), cũng như quyền chia tài sản (sau khi bán). 

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

 

I. VỀ VẤN ĐỀ BA MẸ ANH TẶNG CHO PHẦN ĐẤT CHO NGƯỜI ANH TRAI

Tại Điều 457, 459 Bộ luật dân sự 2015 quy định về tặng cho bất động sản như sau:

“Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.”.

Theo thông tin anh cung cấp, phần đất đứng tên bố mẹ đã được sang tên cho người anh trai, khi người anh trai đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất đó đã thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người anh trai. 

Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 quy định về quyền thừa kế như sau:

“Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.”.

Căn cứ quy định nêu trên thì phần đất khi bố mẹ anh đã sang tên cho người anh trai thì không còn thuộc quyền sở hữu của ba mẹ anh, do vậy ba mẹ anh không còn quyền định đoạt phần đất này bằng di chúc.

II. VỀ NGÔI NHÀ VỢ CHỒNG ANH XÂY DỰNG

Theo thông tin anh cung cấp thì ngôi nhà trên phần đất của người anh trai là do vợ chồng anh bỏ tiền ra để xây dựng, số tiền xây dựng căn nhà tương đương giá trị phần đất tại thời điểm xây, việc vợ chồng anh bỏ tiền xây dựng được sự đồng thuận của cả gia đình bao gồm bố mẹ và các anh, chị, em. Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản nào ghi nhận khoản tiền xây dựng căn nhà hay ghi nhận căn nhà là của vợ chồng anh, do đó để đảm bảo quyền lợi của anh của vợ chồng anh khi người anh trai bán nhà thì cần có văn bản thỏa thuận giữa bố mẹ và tất cả các anh, chị, em trong gia đình cùng xác nhận ngôi nhà là do vợ chồng anh bỏ tiền xây dựng. 

Văn bản thỏa thuận trên khi có chữ ký của tất cả các thành viên trong gia đình thể hiện sự thống nhất và thừa nhận ngôi nhà là của vợ chồng anh, trường hợp nếu có tranh chấp thì văn bản thỏa thuận là một trong các chứng cứ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng anh.

Về vấn đề khi anh trai của anh bán phần đất, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật đất đai 2024 như sau:

“Điều 45. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;

d) Trong thời hạn sử dụng đất;

đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.

…”

Như vậy, khi đáp ứng các điều kiện chuyển nhượng theo quy định trên thì anh trai của anh hoàn toàn có thể chuyển nhượng phần đất trên cho người khác, tuy nhiên việc chuyển nhượng đất có thể bao gồm chuyển nhượng cả phần tài sản trên đất (là ngôi nhà vợ chồng anh xây dựng), trường hợp này các bên có thể thỏa thuận về việc phân chia giá trị ngôi nhà sau khi chuyển nhượng, trường hợp không thỏa thuận được thì anh có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực nơi có bất động sản để yêu cầu anh trai hoàn trả khoản tiền tương ứng giá trị ngôi nhà mà vợ chồng anh đã xây dựng.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi