Nội dung câu hỏi: Mấy tháng trước tôi có quan ông M là người thuê trọ nhà tôi, ông M nói đang làm việc tại một công ty nhựa tái sinh và có 10% cổ phần trong công ty đó. Do tin tưởng, từ thời điểm này ông M bắt đầu vay mượn tôi với tổng số tiền 151.000.000 đồng. Số tiền trên được ông vay trong 5 lần với lý do mua hàng hóa để bán lại cho công ty.
Ba lần vay đầu (tổng cộng 80 triệu đồng) có giấy ghi nợ viết tay và chữ ký của ông M, trong đó ghi rõ lãi suất cụ thể như sau:
-
Lần 1: vay 30.000.000 đồng, lãi suất 80.000 đồng/triệu/tháng.
-
Lần 2: vay 30.000.000 đồng, lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày.
-
Lần 3: vay 20.000.000 đồng, lãi suất 100.000 đồng/triệu/tháng.
Hai lần vay còn lại không có giấy tờ. Tất cả các lần vay và trao đổi qua điện thoại đều được tôi ghi âm lại. Những tháng đầu, ông M trả lãi đầy đủ. Được 5 tháng thì ông không đóng lãi nữa. Tôi yêu cầu thu hồi tiền gốc nhưng ông M liên tục hẹn lần này đến lần khác. Sau 03 tháng không đóng lãi cũng không trả tiền gốc, ông M bỏ trốn, điện thoại không liên lạc được và cũng đã nghỉ làm ở công ty.
Giờ tôi muốn thưa kiện ông M thì tôi có lấy lại được tiền không và mức phạt cho vay nặng lãi của tôi sẽ bị phạt thế nào.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, về vấn đề yêu cầu ông M hoàn trả khoản vay:
Theo thông tin anh cung cấp, anh có thỏa thuận cho ông M vay một số tiền tổng cộng là 151.000.000 đồng chia làm 05 lần vay. 03 lần vay đầu có giấy tờ ghi nhận cụ thể, 02 lần cuối cho vay không được ghi nhận bằng giấy tờ nhưng anh có ghi âm cuộc nói chuyện về thỏa thuận vay tiền. Như vậy, có thể thấy giữa anh và ông M có thỏa thuận vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015. Điều 463 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Như vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật có thể thấy trong trường hợp hợp đồng vay tài sản giữa anh và ông M đã đến hạn nhưng ông M không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì anh có thể chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và gửi đến Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi ông M đang cư trú để yêu cầu giải quyết.
Hồ sơ khởi kiện trong trường hợp này bao gồm các giấy tờ sau:
-
Đơn khởi kiện;
-
Hợp đồng vay tiền và các chứng cứ chứng minh thỏa thuận vay tiền của các bên;
-
Giấy tờ chứng minh anh đã thông báo yêu cầu ông M hoàn trả khoản tiền (nếu có);
-
Giấy tờ chứng minh cư trú của ông M (anh có thể liên hệ với cơ quan công an nơi ông M đang cư trú để đề nghị họ xác nhận cư trú);
-
Giấy tờ tùy thân của anh.
Thứ hai, về vấn đề lãi suất cho vay và cho vay với lãi suất cao:
Theo thông tin anh cung cấp trong hợp đồng vay tài sản giữa anh và ông M, các bên có thỏa thuận lãi suất vay. Vấn đề lãi suất cho vay trong hợp đồng dân sự giữa cá nhân với cá nhân được quy định cụ thể tại Điều 468 Bộ luật dân sự như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Căn cứ theo quy định này, có thể thấy pháp luật dân sự hiện hành cho phép các cá nhân trong hợp đồng vay tài sản được quyền thỏa thuận về lãi suất vay nhưng mức lãi suất vay này không được vượt quá 20%/năm (tức không vượt quá 1,67%/tháng).
Trong trường hợp của anh, trong 03 lần vay có giấy tờ giữa anh và ông M đều có thỏa thuận lãi suất và được ghi trong hợp đồng vay tiền, cụ thể mức lãi suất của 03 lần vay như sau:
-
Lần vay thứ nhất: 30.000.000 đồng với lãi suất 80.000 đồng/triệu/tháng. Mức lãi suất một tháng anh thu về với khoản vay này là 2.400.000 đồng/tháng tương ứng với mức lãi suất là 8%/tháng.
-
Lần vay thứ hai: 30.000.000 đồng với lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày. Mức lãi suất anh thu về đối với lần vay này là 9.000.000 đồng/ tháng tương ứng với mức lãi suất là 30%/tháng.
-
Lần vay thứ ba: 20.000.000 đồng với lãi suất 100.000 đồng/triệu/tháng. Mức lãi suất anh thu về một tháng đối với khoản vay này là 2.000.000 đồng/tháng, tương ứng với mức lãi suất 10%/tháng.
Như vậy, có thể thấy mức lãi suất đối với các khoản tiền được ghi nhận trong giấy vay tiền trong trường hợp của anh đều đã vượt quá mức lãi suất pháp luật dân sự cho phép các bên thỏa thuận. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự đã nêu trên có thể thấy, phần lãi suất vượt quá mức 1,67% sẽ không có hiệu lực. Khi anh khởi kiện đến Tòa án, Tòa án sẽ đưa mức lãi suất vượt quá này về mức lãi suất cơ bản pháp luật cho phép.
Đồng thời, do phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực nên có căn cứ xác định phần tiền lãi vượt quá 1,67%/tháng mà anh đã thu của ông M trong 05 tháng không phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Tòa án có thể yêu cầu anh hoàn trả phần lãi đã thu vượt quá cho ông M hoặc trừ vào khoản tiền ông M vẫn chưa hoàn trả lại cho anh.
Thứ ba, về vấn đề xử phạt đối với hành vi cho vay lãi nặng:
Căn cứ theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như sau:
“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
…”
Như vậy, theo quy định này của Bộ luật hình sự có thể thấy nếu bên cho vay lấy lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự và đã thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên thì có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 mức lãi suất cao nhất pháp luật cho các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay tài sản là không quá 20%/năm (không quá 1,67%/tháng). Nếu bên cho vay lấy lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất (tức lấy lãi suất từ 8,35%/tháng) và đã thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên thì có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự đã nêu trên.
Đối chiếu với trường hợp của anh, trong 03 lần vay có giấy tờ như chúng tôi đã phân tích ở phần thứ nhất lãi suất anh cho vay lần lượt là 8%/tháng, 30%/tháng và 10%/tháng. Như vậy, có thể thấy lần cho vay thứ 2 và thứ 3 mức lãi suất anh cho ông M vay trong hợp đồng đã vượt quá 05 lần trở lên của mức lãi suất pháp luật dân sự hiện hành cho phép các bên thỏa thuận.
Đồng thời, theo thông tin anh cung cấp, ông M đã trả lãi được 05 tháng. Do đó, nếu có căn cứ chứng minh anh đã thu lợi bất chính với các khoản vay này từ 30.000.000 đồng trở lên thì có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh về hành vi cho vay lãi nặng theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Như vậy, trong trường hợp hợp đồng vay tài sản đã đến thời hạn nhưng ông M không hoàn trả cho anh theo đúng thỏa thuận thì anh có quyền khởi kiện đến Tòa án để giải quyết.
Tuy nhiên, như chúng tôi đã phân tích mức lãi suất các bên thỏa thuận cho vay trong 03 hợp đồng vay có giấy tờ đã vượt quá mức lãi suất pháp luật dân sự cho phép và anh đã lấy lãi suất được một khoảng thời gian, do đó sau khi anh gửi đơn khởi kiện đến Tòa án dân sự để yêu cầu giải quyết nếu xét thấy có dấu hiệu của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì Tòa án sẽ chuyển hồ sơ của anh đến cơ quan công an có thẩm quyền để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật hình sự.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: