Phá tài sản của người khác trên đất đang tranh chấp có phạm tội hủy hoại tài sản không?

Phá tài sản của người khác trên đất đang tranh chấp có phạm tội hủy hoại tài sản không?

2026-08-06 14:37:28 2

Nội dung yêu cầu tư vấn:

Gia đình em có một thửa đất do ông bà ngoại tạo lập nhưng không có bất kỳ giấy tờ nào chứng minh việc này. Ông ngoại mất năm 1975, bà ngoại mất năm 1993. Năm 1986, bác em (bác N) kê khai sử dụng thửa đất trên và được ghi tên trong sổ mục kê, bản đồ địa chính do UBND xã quản lý từ năm 1986.

Năm 1998, bác N viết di chúc để toàn bộ thửa đất trên cho anh B (con trai bác). Năm 1999, bác N mất. Năm 2006, người bác gái (vợ của bác N) làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất để anh B đứng tên trong hồ sơ địa chính (hiện tại thửa  đất vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận QSD đất). Năm 2020, bác gái mất, không để lại di chúc.

Năm 2021, người cậu là T về phá dỡ một phần tài sản trên đất do anh B xây dựng, cải tạo lại nhà ở. Hiện tại cậu T tranh chấp với anh B đòi chia thừa kế, vì cho rằng thửa đất này là của ông bà ngoại (tức bố mẹ của bác N và cậu T).

Anh B đã gửi đơn trình báo hành vi  hủy hoại tài sản tới cơ quan công an nhưng cơ quan công an không khởi tố vụ án với lý do đất chưa có GCN đứng tên anh B.

Câu hỏi.

  1. Thửa đất trên có được coi là di sản thừa kế của ông bà ngoại?
  2. Bản di chúc viết tay do bác N viết có giám định chữ viết được không?
  3. Hành vi của người cậu có bị khởi tố về tội hủy hoại tài sản của người khác không?
  4. Phương án giải quyết tranh chấp vơi người cậu như thế nào là tốt nhất?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, việc xác định thửa đất đang tranh chấp có phải di sản thừa kế của ông bà ngoại hay không:

Theo quy định của pháp luật, di sản thừa kế là tài sản sở hữu hợp pháp của một người để lại trước khi chết. Nay nếu ông T (cậu T) khởi kiện muốn chia di sản thừa kế vì cho rằng quyền sử dụng đất thuộc về bố mẹ đẻ của ông T, thì cần làm rõ các vấn đề sau:

- Trường hợp khi giải quyết tranh chấp tại tòa án, bị đơn là anh B thừa nhận rằng nguồn gốc hình thành thửa đất thuộc về ông bà ngoại, nhưng không có giấy tờ, thì áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:“Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.”

Do đó, trong trường hợp anh B là bị đơn, thừa nhận nguồn gốc thửa đất do ông bà ngoại xác lập, sử dụng hợp pháp thì phía nguyên đơn là ông T không bắt buộc phải cung  cấp chứng cứ chứng minh nguồn gốc thửa đất.

- Trường hợp bị đơn là anh B không thừa nhận, thì phía ông T có nghĩa vụ chứng minh, tức là ông T phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh về quyền sử dụng đất do ông bà ngoại tạo lập. Cụ thể:

Theo quy định tại mục 1, phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP, giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất có thể bao gồm: Sổ mục kê, bản đồ địa chính, giấy chứng nhận QSD đất, quyết định đất, hợp đồng nhận chuyển nhượng/thừa kế/tặng cho........do ông bà ngoại đứng tên. Trường hợp không có các giấy tờ này, thì người cậu phải cung cấp được Giấy xác nhận của UBND xã về việc ông bà ngoại sử dụng đất hợp pháp hoặc có sự xác nhận của người dân địa phương biết về việc ông bà ngoại là người tạo lập và sử dụng đất đầu tiên. Trường hợp không có một trong các căn cứ nêu trên và anh B không thừa nhận thì không chứng minh được quyền sử dụng đất do ông bà ngoại tạo lập. Khi đó, quyền sử dụng đất không được coi là di sản thừa kế của ông bà ngoại bạn để lại. Lúc này, tòa án sẽ căn cứ vào hồ sơ địa chính thể hiện từ năm 1986 rằng thửa đât này do bác N đứng tên.

Theo  quy định tại Điều 137 Luật đất đai 2024, thì một trong các giấy tờ hợp pháp để chứng minh quyền sử dụng đất đó là bản đồ địa chính, sổ địa chính được lập từ trước ngày 15/10/1993. 

Như vậy, trong trường hợp người cậu không chứng minh được nguồn gốc thửa đất này do ông bà ngoại tạo lập và sử dụng hợp pháp, thì căn cứ theo bản độ địa chính, sổ mục kê năm 1986, xác định rằng toàn bộ thửa đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của người bác trai.

Trường hợp ông T cung cấp được chứng  cứ chứng minh nguồn gốc thửa  đất do ông bà ngoại tạo lập, sử dụng hợp pháp. Cụ thể như sau:

Trong trường hợp chứng minh được nguồn gốc sử dụng đất hợp pháp là của ông bà ngoại thì việc chia di sản thừa kế cũng phụ thuộc vào thời hiệu yêu cầu phân chia thừa kế. Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản. 

Nếu phía nguyên đơn là ông T chứng minh được, thì thửa đất này thuộc quyền sử dụng chung của ông bà ngoại, trong đó phần di sản của ông ngoại là ½ diện tích thửa đât, phần di  sản của bà ngoại là ½ diện tích còn lại.

 

Đối với phần di sản do người ông ngoại để lại: 

 

Thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế đối với phần tài sản của người ông ngoại đã hết (ông mất năm 1975). Vì vậy, nếu anh yêu cầu tòa án áp dụng thời hiệu, thì nguyên đơn không còn quyền yêu cầu phân chia di sản thừa kế đối với phần tài sản của người ông ngoại.

Đối với phần di sản của bà ngoại để lại, tức là ½ diện tích thửa đất còn lại:

Theo thông tin anh cung cấp, người bà mất năm 1993, vì vậy tính đến thời điểm hiện tại là năm 2026 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế cũng đã hết. Đồng thời, đối với phần diện tích đất này bà ngoại đã đồng ý cho ông N, nên có thể không có căn cứ để yêu cầu chia thừa kế phần di sản của bà ngoại.

Thứ hai, về việc giám định chữ viết, chữ ký trên bản di chúc do ông N để lại:

Việc giám định chữ viết, chữ ký thì theo quy định tại Điều 26 Luật  giám định tư pháp 2025, cần phải cung cấp đầy đủ đối tượng giám định và các tài liệu liên quan để so sánh chữ viết, chữ ký trên các đối tượng giám định có phải do cùng 1 người viết hay không?

Vì vậy, nếu đề nghị giám định chữ viết, chữ ký trên bản di chúc do ông N lập, thì phải có tài liệu, giấy tờ khác thể hiện có chữ ký, chữ viết của ông N để so sánh. 

Trường hợp ông N không để lại giấy tờ, tài liệu nào có chữ viết, chữ ký thì cũng không thể đối chiếu để xác định được chữ viết trên bản di chúc là do ai lập.

Thứ ba, về hành vi hủy hoại tài sản do ông T thực hiện đối với các tài sản do anh B tạo lập:

Giấy chứng nhận QSD đất là loại giấy tờ ghi nhận quyền sử dụng đất và ghi nhận quyền sở hữu tài sản trên đất. Thông thường, căn cứ vào Giấy chứng nhận này để chứng minh tài sản trên đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ai?

Trường hợp anh B chưa được cấp giấy chứng nhận QSD đất, cũng như chưa được ghi nhận quyền sở hữu tài sản trên đất vào Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, ngoài Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì cũng còn có nhiều phương thức khác để chứng minh ai là người sở hữu tài sản trên đất, trong đó nghĩa vụ chứng minh thuộc về anh B.

Vì vậy, việc cơ quan công an trả lời rằng chưa có giấy chứng nhận QSD nên hiện tại, chưa thể xác định được ai là người sở hữu tài sản, là nhận định có căn cứ nhưng chưa đầy đủ và chưa phải kết luận cuối cùng.

Hơn nữa, không thể nhận định rằng việc sửa chữa ngôi nhà trên thửa đất là nhằm mục đích nâng cấp làm tăng giá trị tài sản, vì vậy không xem xét xử lý về hành vi hủy hoại, làm hư hỏng tài sản của người khác được. Bởi vì, theo thông tin anh cung cấp thì ngoài hành vi tháo dỡ ngối để lợp lại mái nhà thì ông T còn có hành vi phá dỡ 2 căn bếp, vứt bỏ đồ dùng sinh hoạt trong gia đình.

Để chứng minh quyền sở hữu tài sản trên đất, anh cần cung cấp các tài liệu khác như văn bản xác nhận của những người hàng xóm, văn bản xác nhận của UBND cấp xã về việc anh là người đầu tư xây dựng các công trình trên thửa đất này? Hoặc các giấy tờ khác như hợp đồng thuê nhân công xây dựng, giấy tờ mua bán nguyên vật liệu hoặc giấy tờ xác nhận của đơn vị đã thi công xây  dựng công trình cho anh. Trường hợp không có bất kỳ giấy tờ nào chứng minh thì có thể yêu cầu đối chất với ông T để làm rõ ông T có thừa nhận thực hiện hành vi phá hủy 2 căn bếp và vứt bỏ các đồ dùng sinh hoạt, trong khi các tài sản này không phải do ông T tạo lập hay không?

Do đó, cơ quan công an cần xác minh để làm rõ giá trị các tài sản bị hư hỏng, mất, hủy bỏ mà ông T gây ra, có chứng cứ chứng minh các tài sản này gồm các loại nào, có hình ảnh, video ghi lại sự việc hay không? Từ đó mới có thể kết luận được ông T làm hư hỏng tài sản gì, tài sản của ai và giá trị tài sản bị hư hỏng, hủy hoại là bao nhiêu?

Pháp luật bảo hộ tài sản của công dân thông qua việc trao cho công dân có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn người khác xâm phạm đến tài sản của mình bằng các phương thức hợp pháp, có quyền kiện đòi tài sản, kiện đòi bồi thường thiệt hại và trình báo đến cơ  quan công an để yêu cầu xử phạt hành vi của người đã xâm phạm đến tài sản của mình. 

Trong trường hợp của anh, anh đã có đơn trình báo tới cơ quan công an. Phía công an cũng đang xác minh về việc ai là người sở hữu tài sản trên đất, giá trị tài sản là bao nhiêu, và cũng mới chỉ đưa ra nhận định là chưa thể xác định được chứ không kết luận là không có hành vi vi phạm. 

Vì vậy, anh có quyền tiếp tục yêu cầu cơ quan công an xác minh và định giá giá trị tài sản bị mất, hư hỏng, đồng thời anh có nghĩa vụ phải cung cấp cho cơ quan công an căn cứ pháp lý để cho rằng các tài sản bị mất gồm tài sản nào, các công trình xây dựng trên đất do ai xây dựng và thuộc quyền sở hữu của anh?

Thứ tư, phương án giải quyết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp:

- Đối với vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất và sở hữu căn nhà trên đất:

Như đã phân tích ở phần thứ nhất, đây là tranh chấp liên quan đến thừa kế tài sản, tuy nhiên thời hiệu yêu cầu phân chia di sản đã hết, hơn nữa anh lại có bản di chúc do ông N để lại. Do đó, có thể căn cứ vào bản di chúc này để làm thủ tục kê khai thừa kế tài sản và xin cấp Giấy chứng nhận QSD đất lần đầu tại UBND cấp xã nơi có đất. Nếu trong quá trình làm thủ tục cấp GCN ông T có đơn khởi kiện ra Tòa án thì quyền lợi của anh B được phân tích như các nội dung phía trên.

- Đối với vấn đề liên quan đến việc bị hủy hoại tài sản:

Hành vi hủy hoại tài sản của người khác mà giá trị tài sản bị thiệt hại dưới 2 triệu đồng thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, với mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Trường hợp tài sản bị thiệt hại từ 2 triệu đồng trở lên, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự 2015. Trong trường hợp này, thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát, các cơ quan này sẽ tiến hành các hoạt động xác minh, điều tra và khởi tố khi có căn cứ xác định tội phạm. Do đó, nếu anh gửi đơn yêu cầu tòa án xử lý về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự 2015 thì tòa án cũng sẽ phải chuyển hồ sơ cho cơ quan công an để xác minh.

Ngoài ra, người gây thiệt hại còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị hư hỏng, bị mất, bị hủy hoại. Đối với quyền yêu cầu khắc phục thiệt hại và bồi thường, anh có quyền khởi kiện một vụ án dân sự độc lập tại Tòa án, hoặc yêu cầu đồng thời trong vụ kiện liên quan đến tranh chấp về thừa kế tài sản. Tuy nhiên tòa án cũng sẽ yêu cầu anh phải cung cấp các chứng cứ chứng minh cho hành vi gây thiệt hại như hình ảnh, video, ghi âm, người làm chứng hoặc các chứng cứ khác (nếu có), các chứng cứ liên quan đến xác định giá trị tài sản, loại tài sản, số lượng tài sản bị hư hỏng, thiệt hại.

Trong vụ kiện này, nhược điểm của anh đó là không có chứng cứ chứng minh cho các nội dung mà chúng tôi đã nêu trên. Cụ thể, anh không chứng minh được những đồ dùng sinh hoạt nào bị mất, số lượng bị mất, giá trị tài sản bị mất là bao nhiêu. Đối với việc ông T đập phá bỏ 2 căn bếp, anh có thể thu thập chứng cứ là người làm chứng, nếu như có ai chứng kiến sự việc.

Ngoài ra, khi khởi kiện dân sự tại tòa án, phía tòa án sẽ không thực hiện các công việc  xác minh tích cực như cơ quan công an, bởi vì trong vụ kiện dân sự thì trách nhiệm chứng minh thuộc về các đương sự, tòa án chỉ hỗ trợ thu thập chứng cứ trong phạm vi có thể. Do đó, với các vụ kiện kiểu này, anh rất khó chứng minh giá trị tài sản bị hư hỏng, bị mất để yêu cầu bồi thường thiệt hại. 

Anh có thể tiếp tục gửi đơn đến cơ quan công an hoặc Viện kiểm sát nhân dân để kiến nghị xác minh, đồng thời anh phải cung cấp được chứng cứ xác định anh là người sở hữu tài sản trên đất như văn bản xác nhận của UBND cấp xã nơi có đất, hoặc văn bản thu thập ý kiến của hàng xóm, của bên thi công xây dựng công trình hoặc các chứng cứ khác như đã tư vấn tại phần thứ ba của bản tư vấn này.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi