Nội dung câu câu hỏi: Em có cho 1 chị mượn tiền có giấy tờ viết tay có người làm chứng, chị ấy có thế chấp e 1 sổ tiết kiệm ngân hàng, giờ chị ấy trốn ra nước ngoài em có thể kiện và rút tiền trong sổ đó ra được không ạ.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

1. Quy định về hợp đồng vay tài sản:
Căn cứ điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:
“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Theo đó, Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận của các bên, Bên cho vay sẽ giao tài sản cho bên vay và khi đến thời hạn trả thì bên vay phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bên cho vay đúng tài sản đã nhận và lãi suất nếu có.
Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay được quy định tại điều 466 BLDS 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Theo nội dung cung cấp, chị có cho một người vay tiền và hai bên có lập hợp đồng vay bằng văn bản. Trong trường hợp hết thời hạn cho vay mà hai bên đã thoả thuận thì người vay có nghĩa vụ phải trả lại chị toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi theo quy định. Nếu người chị đó không trả đúng thời hạn thì chị có quyền khởi kiện đến Toà án khu vực nơi người đó cư trú để yêu cầu người đó thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Nội dung đơn khởi kiện bao gồm các thông tin sau: Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện (là Toà án quận/huyện nơi bị đơn cư trú); Tên, địa chỉ nơi cư trú của chị; Tên, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của người chị vay tiền đó; Họ tên, địa chỉ người làm chứng; Tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của chị (Hợp đồng vay tiền, sổ tiết kiệm…); Nội dung chị yêu cầu toà án giải quyết (Yêu cầu Toà án Buộc Bên vay phải trả cho chị số tiền gốc và khoản lãi (nếu có)).
Tuy nhiên, theo như chị cung cấp thì người này hiện nay đã có hành vi “bỏ trốn” ra nước ngoài nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và chiếm đoạt số tiền vay. Theo đó, hành vi bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản có có dấu hiệu của tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 175 BLHS 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, chị có thể làm đơn trình báo đến đến cơ quan công an nơi người vay cư trú để điều tra, xử lý theo quy định.
Nội dung đơn trình báo chị có thể tham khảo như sau:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
ĐƠN TRÌNH BÁO
Kính gửi: Công an ……………………………………………………………
Tôi tên là: …………………………………SĐT………………………………
CMND/CCCD số: …………………………………………………………….
Địa chỉ thường trú: ……………………………………………………………
Địa chỉ liên lạc: …………………………………………………………….….
Tôi làm đơn này xin trình báo với Quý cơ quan việc như sau:
…………………………………………………………………… (Miêu tả chi tiết hành vi vi phạm, các mốc thời gian liên quan đến vi phạm, tên, địa chỉ người vi phạm (nếu có))
Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, đồng thời ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nay tôi đề nghị Quý cơ quan xem xét các vấn đề sau đây:
1: ………………………………………………………………………………
2: ………………………………………………………………………………
3: ………………………………………………………………………………
(Ví dụ: - Đề nghị xem xét hành vi vi phạm pháp luật của…
- Đề nghị xác minh người thực hiện hành vi vi phạm…)
Xin chân thành cảm ơn!
Tài liệu kèm theo: (Giấy vay tiền, tài liệu chứng minh người vay bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản ….)
……, ngày … tháng … năm……
Người làm đơn
Khung hình phạt của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định cụ thể như sau:
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
…”
Theo quy định trên thì người nào có hành vi vay, mượn tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 4.000.000 đồng trở lên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khung hình phạt thấp nhất của tội danh này có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng và cao nhất là 20 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
2. Vấn đề có rút tiền được từ sổ tiết kiệm của người vay tiền hay không?
Theo thông tin chị cung cấp, người vay tiền có thế chấp 01 sổ tiết kiệm để đảm bảo cho khoản vay.
Việc thế chấp tài sản được quy định tại điều 317 BLDS 2015 như sau:
“1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).
2. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.”
Theo đó, việc thế chấp tài sản không có sự chuyển giao quyền sở hữu tài sản thế chấp giữa hai bên mà chỉ chuyển giao giấy tờ chứng minh tình trạng của tài sản thế chấp đó. Tài sản thế chấp vẫn thuộc sở hữu của bên thế chấp.
Trường hợp này, người vay chỉ giao sổ tiết kiệm cho chị giữ mà không chuyển giao quyền sở hữu số tiền trong sổ tiết kiệm. Do đó, chị không thể tự mình rút số tiền tiết kiệm, nếu muốn rút thì buộc phải nhận được sự uỷ quyền của người vay hoặc phải khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền, Sau khi có Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật thì chị có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành Bản án/Quyết định bằng biện pháp cưỡng chế là khấu trừ số tiền trong sổ tiết kiệm để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: