Người thân có quyền đại diện bị cáo làm đơn xin lại tài sản bị cơ quan điều tra thu giữ không?

Người thân có quyền đại diện bị cáo làm đơn xin lại tài sản bị cơ quan điều tra thu giữ không?

2026-07-06 21:27:04 1

Em trai tôi bị bắt về tội làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức và bị phạt tù 4 năm.

Ngày em trai tôi ra toà có khai trước toà cơ quan cảnh sát điều tra có thu giữ của e trai tôi 1 số tài sản không liên quan đến vụ án như: 1 đồng hồ apple watch, 1 airpad, 1 laptop hiệu xiaomi và 1 thẻ atm cá nhân có số tiền: 130.000.000 trong thẻ và yêu cầu em trai tôi cung cấp tài khoản và mật khẩu ngân hàng + tài khoản và mật khẩu icloud. E trai tôi có đề nghị trước toà yêu cầu cơ quan công an hoàn trả lại số tài sản trên. Toà có bảo e trai tôi làm đơn xin lại tài sản tạm giữ.  

Sau đó tôi có đến cơ quan điều tra yêu cầu giải quyết thì công an điều tra trả lời tôi rằng: các tài sản đó đã được bàn giao cho chủ nhà nơi e tôi bị bắt, nhưng ngày em tôi bị bắt tôi đến nhận lại đồ dùng của em tôi và kí vào biên bản bàn giao không có số đồ vật trên. Và chủ nhà đã xác nhận với tôi mọi đồ vật liên quan tới công nghệ đều được cơ quan công an đem đi hết. Còn thẻ atm cơ quan điều tra trả lời tôi rằng: thẻ của em trai tôi họ không giữ và đưa cho ai đó rút rồi đổ thừa cho họ. Trong khi ngày e trai tôi bị bắt tôi có lên làm việc tôi thấy Cảnh sát điều tra đang giữ thẻ và giấy tờ tuỳ thân của e tôi. 

Vậy tôi muốn hỏi: tôi muốn đại diện em trai tôi làm đơn đòi tài sản có cần giấy tờ thủ tục gì không? Vì trong trại tạm giam em trai tôi vẫn chưa được sử dụng giấy bút. 

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:



Theo quy định tại Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về Vật chứng quy định:“Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.” 

Vật chứng phải là các vật có giá trị chứng minh và liên quan đến vụ án hình sự, các tài sản của người phạm tội mà không liên quan đến nội dung vụ án không phải là vật chứng và phải trả lại ngay cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó. 

Việc xử lý vật chứng được quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 như sau: 

“ ... 3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:

a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;

b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án; ...”

Theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 90 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điều 5 Nghị định 127/2017/NĐ-CP thì Vật chứng là các tài liệu, tài sản như chị liệt kê, cơ quan tiến hành thu giữ phải lập biên bản và niêm phong ngay sau khi thu thập.

Căn cứ điều 7 Nghị định 127/2017/NĐ-CP thì khi niêm phong bắt buộc phải có sự tham gia của người chứng kiến, người liên quan

“Điều 7. Người tham gia niêm phong, mở niêm phong vật chứng

1. Người tham gia niêm phong vật chứng:

a) Người chứng kiến hoặc đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi thực hiện niêm phong vật chứng;

b) Người liên quan; đại diện cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan đến vật chứng được niêm phong (nếu có);

c) Người bào chữa (nếu có).

2. Người tham gia mở niêm phong vật chứng:

a) Người liên quan; đại diện cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm liên quan đến vật chứng được niêm phong (nếu có);

b) Người bào chữa (nếu xét thấy cần thiết);

c) Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi mở niêm phong vật chứng (trong trường hợp cần thiết);

d) Đại diện cơ quan quản lý vật chứng được niêm phong trong những trường hợp vật chứng được bảo quản tại các cơ quan chuyên môn.”

Do vậy, nếu chị cho rằng tài sản đang bị thất thoát cần kiểm tra lại biên bản niêm phong hoặc đối chất về tài sản thu giữ để kiểm kê nhận lại cho phù hợp. Các tài sản đã bị cơ quan công an điều tra thu giữ và các vật này không liên quan đến vụ án, không phải là vật chứng thì theo quy định pháp luật phải trả lại ngay tài sản đã thu giữ cho em của chị. Trong trường hợp đã xác định được các tài sản bị thu giữ không phải vật chứng của vụ án, em trai của chị có quyền đòi lại tài sản từ cơ quan đã thu giữ. 

Trường hợp tài sản đó bị chiếm đoạt bất hợp pháp (không theo trình tự thu giữ vật chứng) chị có thể trình báo cơ quan công an điều tra hoặc Viện kiểm sát nhân dân để tiến hành tố cáo hành vi trên. Tuy nhiên, khi tiến hành tố cáo, chị cần phải có căn cứ về việc số tài sản trên đã bị thu giữ trên thực tế (qua các giấy tờ, hình ảnh, văn bản, người làm chứng, … ) và người thu giữ các tài sản đó đã cố tình không trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp khi đã xác định đó không phải là vật chứng.

Theo thông tin chị nêu, thì tài sản là các đồ vật liệt kê phía công an vẫn tiến hành bàn giao lại cho chị. Tuy nhiên hai bên chưa thống nhất được chiếc thẻ ATM và số tiền trong đó vì vậy cần kiểm tra lại toàn diện quá trình kiểm kê thu giữ tài sản, nếu chị có các căn cứ chứng minh (người làm chứng, biên bản thu giữ ...) phía cơ quan công an có thu giữ thẻ ATM thì hoàn toàn có quyền yêu cầu trả lại, đồng thời chị ra ngân hàng yêu cầu sao kê tài khoản để kiểm tra xem số tiền 130 triệu đó có lệnh rút như thế nào? Nếu em trai chị cũng như người thân không có ai rút khoản tiền này, thì căn cứ vào các thông tin ngân hàng cung cấp chị ra trình báo cơ quan công an về việc mất trộm số tiền này để họ xác minh, điều tra làm rõ.

Sau khi có bản án, cơ quan điều tra có thể gặp phạm nhân để giải quyết một số vấn đề xử lý tài sản không phải là vật chứng vụ án, việc gây sức ép hay không thì chưa có cơ sở khẳng định vì các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết xử lý vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.

Liên quan đến việc chị có quyền thay em trai yêu cầu cơ quan đang thu giữa tài sản trả lại hay không, thì Căn cứ Điều 27 Luật thi hành án hình sự năm 2019 về quyền của phạm nhân quy định: 

“1. Phạm nhân có các quyền sau đây:

a) Được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân;

đ) Được gặp, liên lạc với thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;

e) Được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật;

g) Được bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; được đề nghị xét đặc xá, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; ...”

Theo đó, em trai của chị có đầy đủ các quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật và được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Bao gồm cả việc ủy quyền cho chị thực hiện quyền yêu cầu người đã thu giữ tài sản phải trả lại những tài sản không phải là vật chứng và bồi thường thiệt hại (nếu có). 

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi