Ly hôn đơn phương: Xử lý tài sản và giành quyền nuôi con

Ly hôn đơn phương: Xử lý tài sản và giành quyền nuôi con

2026-01-03 21:32:44 14

Tôi và chồng kết hôn được gần 3 năm. Chúng tôi có một bé trai được gần 5 tháng tuổi và bé ở với mẹ cùng ông bà ngoại từ lúc mới sinh. Trong cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn dẫn đến cự cãi mà nguyên nhân chủ yếu là do bên nhà chồng. Quá nhiều sự việc diễn ra khiến chúng tôi dần không tìm được tiếng nói chung và cả hai đều muốn kết thúc cuộc hôn nhân này. Toàn bộ tài sản trước và sau khi kết hôn (gồm vàng, tiền mặt, sổ tiết kiệm) đều do tôi quản lý và đứng tên, cùng 1 căn nhà do bố mẹ tôi cho sau khi cưới cũng đã sang tên cho tôi. Hiện tôi đang làm trong nhà nước và chồng làm công ty tư nhân. Xin luật sư tư vấn giúp tôi nếu ly hôn thì tài sản và quyền nuôi con sẽ được xử lý như thế nào? Làm thế nào để tôi chắc chắn giành được quyền nuôi con? Trường hợp chồng tôi muốn kéo dài thời gian ly hôn để đợi con lớn, thì tôi có thể yêu cầu ly hôn đơn phương không? 

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

1. Về yêu cầu ly hôn đơn phương

Trong trường hợp của chị, nếu cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn trầm trọng mà không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được thì hai vợ chồng có thể cùng yêu cầu ly hôn, thỏa thuận về việc phân chia tài sản và quyền nuôi con. Nếu như chồng chị không đồng ý về việc ly hôn thì chị có quyền đơn phương ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứvề việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợpvợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợpcó yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia”.

Như vậy, khi đơn phương ly hôn, chị phải có căn cứ về việc người chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cụ thể, tại Điểm a Mục 8 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP quy định các Căn cứ cho ly hôn như sau:

"a. Tòa án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.

a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt”.

Hồ sơ để yêu cầu đơn phương ly hôn bao gồm:

+   Đơn xin ly hôn (theo mẫu);

+   Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+   Sổ hộ khẩu, Chứng minh thư nhân dân của vợ, chồng (bản sao chứng thực);

+   Giấy khai sinh của con (bản sao chứng thực);

+   Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung (nếu có) như: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao chứng thực);

Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc gửi qua đường bưu điện

2. Về quyền nuôi con khi ly hôn

Về nguyên tắc thì sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Tòa án căn cứ vào quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để quyết định người trực tiếp nuôi con:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Trong trường hợp của chị, con chị hiện tại 5 tháng tuổi đồng thời chị hoàn toàn đủ sức khỏe, năng lực hành vi dân sự, có thời gian trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do vậy, nếu ly hôn tại thời điểm này thì quyền nuôi con sẽ được giao cho chị trực tiếp nuôi (trừ trường hợp vợ chồng chị có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con).

Trường hợp khi ly hôn, con chị đã trên 36 tháng tuổi mà hai vợ chồng không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, khi đó Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi. 

Căn cứ để tòa án giao con cho vợ hoặc chồng nuôi sẽ dựa vào các điều kiện về vật chất, tinh thần, cụ thể như sau:

  • Điều kiện về vật chất: Người trực tiếp nuôi con phải chứng minh mình có điều kiện tốt hơn về vật chất như có công việc và thu nhập ổn định, một chỗ ở hợp pháp và ổn định, đảm bảo các điều kiện để con được học tập, vui chơi, giải trí…
  • Điều kiện về tinh thần: Người trực tiếp nuôi con phải đảm bảo về thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, đảm bảo các điều kiện về môi trường sống lành mạnh, đảm bảo sự phát triển về nhân cách, đạo đức…

Đồng thời với việc chứng minh mình có đầy đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì chị có thể cung cấp thêm các chứng cứ chứng minh người chồng không đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để nuôi dạy con cái hoặc chứng minh chị có điều kiện nuôi con vượt trội hơn so với người chồng.

3. Về phân chia tài sản khi ly hôn

Nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.

Như vậy, về nguyên tắc thì khi ly hôn tài sản riêng của ai vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó (trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung). Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến công sức đóng góp, hoàn cảnh của gia đình, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng và bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp.

Việc xác định tài sản chung, tài sản riêng theo quy định tại Điều 33, điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 33: Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Cụ thể, trong trường hợp của chị, đối với các tài sản là vàng, tiền mặt, sổ tiết kiệm nếu như có trước thời kỳ hôn nhân thì đây là tài sản riêng của người đó và không phải chia khi ly hôn. Trường hợp tài sản này có được trong thời kỳ hôn nhân (do vợ chồng cùng tạo ra, hoặc được thừa kế, tặng cho chung) thì khi ly hôn tài sản này được phân chia theo nguyên tắc tại Điều 59 nêu trên.

Đối với căn nhà do bố mẹ chị cho sau khi cưới, chúng tôi chưa rõ thông tin về tài sản này bố mẹ bạn tặng riêng chị hay tặng cho chung hai vợ chồng. Trường hợp căn nhà được tặng cho riêng chị thì đây được xác định là tài sản riêng. Nếu tặng cho chung hai vợ chồng hoặc tặng cho riêng chị nhưng sau đó chị có thỏa thuận về việc  sáp nhập tài sản riêng này vào tài sản chung thì đây được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng và được phân chia khi ly hôn.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi