Nội dung câu hỏi: Tôi là người Pháp đang sinh sống tại tỉnh Sóc Trăng. Tôi kết hôn năm 2010 với một người vợ Việt Nam và có 2 con. Năm 2014, vợ tôi cùng tôi sang Úc bằng visa du lịch trong 3 tháng. Sau thời gian này, tôi quay lại Việt Nam mà không có vợ đi cùng. Từ đó đến nay, tôi sống một mình với các con tại Việt Nam.
Tôi muốn ly hôn nhưng không biết có thể thực hiện được khi vợ tôi không có mặt tại đây và cũng không rõ địa chỉ của cô ấy. Vậy trong trường hợp này có thể tiến hành ly hôn không? Ngoài ra, tài sản chung mua năm 2011 sẽ được giải quyết thế nào? Quyền nuôi con sẽ ra sao? Là người nước ngoài, tôi rất khó để biết rõ quyền lợi của mình tại Việt Nam.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin anh cung cấp, anh là công dân nước ngoài có kết hôn với công dân Việt Nam và hiện tại đang sinh sống tại Việt Nam. Nếu việc kết hôn của anh chị đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận thì việc ly hôn của anh chị cũng sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Khi đó, anh có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết vấn đề ly hôn của mình theo quy định của pháp luật Việt Nam. Việc ly hôn của anh trong trường hợp này được thực hiện như sau:
Thứ nhất, về thủ tục giải quyết ly hôn:
Tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định vợ, chồng hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn. Hiện nay theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly hôn có thể được thực hiện thông qua một trong hai thủ tục:
-
Thủ tục thuận tình ly hôn được thực hiện trong trường hợp cả vợ và chồng cùng đồng ý ly hôn và không phát sinh bất cứ tranh chấp gì liên quan đến tài sản, quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con…;
-
Thủ tục đơn phương ly hôn (ly hôn theo yêu cầu của một bên) được thực hiện trong trường hợp chỉ một bên muốn ly hôn hoặc các bên có tranh chấp trong quá trình yêu cầu ly hôn.
Với trường hợp của anh, hiện tại chỉ có anh có yêu cầu ly hôn do đó anh có thể thực hiện thủ tục đơn phương ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
…”
Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên nếu từ năm 2014 đến nay anh và vợ không còn chung sống, tình cảm giữa hai bên không còn thì anh có quyền gửi đơn yêu cầu giải quyết đơn phương ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam khi yêu cầu giải quyết ly hôn người yêu cầu phải cung cấp được thông tin về nơi cư trú của bên còn lại. Với trường hợp của anh, do anh không còn liên lạc với vợ từ năm 2014 đến nay đồng thời không xác định được địa chỉ cụ thể của vợ do đó việc giải quyết ly hôn của anh sẽ gặp nhiều khó khăn. Do vậy, trước tiên để việc giải quyết ly hôn của anh được dễ dàng hơn anh nên tự tìm hiểu thông tin cư trú của vợ anh thông qua bố mẹ hoặc bạn bè của vợ anh.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của vợ anh thì anh có thể gửi hồ sơ ly hôn đến Tòa án nhân dân nơi cuối cùng vợ anh cư trú trước khi ra nước ngoài. Nơi cư trú được xác định là nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú. Trong trường hợp vợ anh ra nước ngoài từ năm 2014 đến nay chưa về nước thì thẩm quyền giải quyết yêu cầu đơn phương ly hôn của anh thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cuối cùng vợ anh cư trú trước khi ra nước ngoài.
Tuy nhiên, trong trường hợp khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu ly hôn của anh nhưng Tòa án không liên lạc được với vợ của anh và có thông tin xác nhận vợ anh không còn cư trú ở tại địa chỉ anh đã cung cấp đồng thời cũng không có thông tin ghi nhận vợ anh đang cư trú ở đâu thì Tòa án chưa thể giải quyết ly hôn do không gửi được hồ sơ, giấy tờ thông báo về việc ly hôn đến vợ anh. Khi đó, để được giải quyết ly hôn trước tiên cần có quyết định của Tòa án nhân dân Việt Nam tuyên bố vợ anh đã mất tích.
Về thủ tục đề nghị tuyên bố một người mất tích:
Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự 2015 thì khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Do đó, trong trường hợp từ năm 2014 đến nay anh không có thông tin gì của vợ mình thì anh có thể liên hệ với Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cuối cùng vợ anh cư trú trước khi ra nước ngoài và yêu cầu Tòa án thực hiện các thủ tục để tuyên bố vợ anh mất tích theo quy định.
Sau khi có quyết định tuyên bố vợ anh đã mất tích theo quy định anh mới có thể thực hiện được thủ tục ly hôn.
Hồ sơ ly hôn bao gồm:
-
Đơn khởi kiện ly hôn (theo mẫu);
-
Giấy đăng ký kết hôn bản gốc;
-
Hộ chiếu của anh (bản sao, công chứng);
-
Giấy khai sinh của các con (bản sao, công chứng);
-
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản sao, công chứng);
-
Quyết định tuyên bố vợ anh mất tích (trong trường hợp ly hôn khi vợ anh bị tuyên bố là mất tích).
Thứ hai, về phân chia tài sản khi ly hôn:
Trước khi xác định việc phân chia tài sản khi ly hôn, cần xác định tài sản là căn nhà được mua năm 2011 là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Theo quy định tại Điều 33, Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, tài sản do vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung và các tài sản khác do vợ chồng cùng thỏa thuận là tài sản chung.
Tài sản riêng là các tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản có được sau khi vợ chồng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Đối chiếu với trường hợp của anh, nếu căn nhà được mua vào năm 2011, tại thời điểm mua căn nhà không có văn bản thỏa thuận đây là tài sản riêng của vợ hoặc tài sản riêng của chồng sau khi kết hôn thì tài sản này được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Về nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có xét đến các yếu tố như như công sức đóng góp trong việc tạo lập tài sản, hoàn cảnh gia đình của hai bên, lỗi của các bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng…
Trong trường hợp ly hôn do vợ anh bị tuyên bố mất tích thì tài sản chung vẫn được phân chia theo quy định pháp luật, phần tài sản của người vợ sau khi ly hôn sẽ do cha, mẹ của họ quản lý.
Thứ ba, về quyền nuôi con khi ly hôn:
Tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:
“…2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Như vậy theo quy định của pháp luật nêu trên, khi giải quyết ly hôn mà phát sinh tranh chấp quyền nuôi con thì Tòa án sẽ xem xét về độ tuổi của con và điều kiện của cha, mẹ để quyết định quyền trực tiếp nuôi con. Cụ thể:
Đối với con dưới 36 tháng tuổi quyền nuôi con được giao trực tiếp cho người mẹ, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con như người mẹ bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc đi làm xa không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con…
Đối với con từ đủ 36 tháng tuổi trở lên, trường hợp này không còn quy định ưu tiên cho người mẹ, khi đó Tòa án xem xét giao con cho một bên nuôi nếu chứng minh được mình có điều kiện đảm bảo phát triển mọi mặt của con tốt hơn bên còn lại. Nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì ngoài điều kiện của cha, mẹ cần xem xét thêm nguyện vọng của các con.
Đối chiếu với trường hợp của anh, nếu vợ anh bị tuyên bố là mất tích và anh được giải quyết ly hôn thì anh sẽ được quyền nuôi cả hai cháu.
Trong trường hợp khi anh yêu cầu ly hôn và Tòa án có liên hệ được với vợ của anh và vợ anh có tranh chấp về quyền nuôi con thì Tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện kinh tế, điều kiện chỗ ở, điều kiện về thời gian chăm cơn, tình cảm với con và ý chí của các con (đối với con từ đủ 07 tuổi trở lên) để quyết định về quyền nuôi con.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: