Lãi suất vay cá nhân 2%/tháng có hợp pháp không?

Lãi suất vay cá nhân 2%/tháng có hợp pháp không?

2026-06-19 10:00:10 3

Câu hỏi: Tháng 1/2023 em có cho hàng xóm cạnh nhà em (chị A) vay gần 180tr, lãi suất là 2% tháng. Đầu tháng 3/2023 người vay mang con bỏ về nhà mẹ đẻ (cũng ở Hải Phòng) nhà chồng tuyên bố không chịu trách nhiệm về nợ nần của vợ. 

Em muốn nhờ anh chị luật sư tư vấn về 3 vấn đề: 

  1. Với lãi suất như vậy thì em có vi phạm pháp luật không?
  2. Nếu em kiện bạn này ra pháp luật thì cần làm theo tiến trình như thế nào để đạt kết quả tốt nhất. Và nếu em thuê bên anh chị đại diện cho em thì chi phí hết bao nhiêu?
  3. Giả sử bạn này không có khả năng trả nợ thì bên em xem như mất trắng số tiền đấy phải không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn anh chị!

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

THỨ NHẤT, VỀ VẤN ĐỀ LÃI SUẤT CHO VAY TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN:

Theo thông tin chị cung cấp, tháng 1/2023 chị có cho chị A vay số tiền 180 triệu, có thể thấy giữa chị và chị A có phát sinh hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015. Đối với hợp đồng vay tài sản pháp luật không có quy định bắt buộc các bên phải lập thành hợp đồng bằng văn bản có công chứng chứng thực. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của mình khi xảy ra tranh chấp chị cần chứng minh được có thỏa thuận cho vay tiền trên thực tế giữa chị và chị A.

Đối với vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tiền tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 có quy định cụ thể như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

…”

Như vậy, căn cứ theo quy định pháp luật đã nêu trên thì lãi suất cho vay giữa cá nhân trong hợp đồng vay tài sản do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm, tương ứng với mức lãi suất không vượt quá 1,67%/tháng.

Đối chiếu với trường hợp của chị, chị có cho vay với lãi suất 2%/tháng đã vượt quá mức lãi suất tối đa mà pháp luật cho phép các bên thỏa thuận. Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra thì phần lãi suất vượt quá sẽ không có hiệu lực pháp luật.

Lãi suất cho vay giữa các bên trong trường hợp này đã vi phạm quy định của pháp luật dân sự tuy nhiên chưa bị vi phạm quy định của pháp luật hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). 

Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự thì cá nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi cho vay với mức lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất mà pháp luật dân sự cho phép (1,67%/tháng) - tức vượt quá từ 8,35%/tháng trở lên và đã thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. 

THỨ HAI, GIẢI QUYẾT TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN VAY VI PHẠM NGHĨA VỤ THANH TOÁN:

Trước hết, do thông tin chị cung cấp chưa rõ ràng do đó chúng tôi chưa xác định được hợp đồng vay tiền giữa chị và chị A là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn hay hợp đồng vay tiền không có kỳ hạn theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành và chị A đã vi phạm về nghĩa vụ trả tiền giữa các bên trong hợp đồng hay chưa. 

Do vậy đối với trường hợp của chị, trước tiên chị cần xác định quyền yêu cầu trả lại tài sản của mình theo quy định của pháp luật. Tại Điều 469 Bộ luật dân sự 2015 quy định về thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn như sau: “2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.”

Tại Điều 470 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn như sau: “2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

Như vậy, căn cứ theo quy định của pháp luật nếu hợp đồng vay tài sản giữa chị và chị A là hợp đồng vay không kỳ hạn thì chị có quyền yêu cầu chị A trả lại khoản tiền bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo trước cho chị A một khoảng thời gian hợp lý. Nếu là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn thì chị chỉ được quyền yêu cầu chị A hoàn trả khoản tiền khi đã đến thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng (trừ trường hợp chị và chị A có thỏa thuận khác). 

Nếu trong trường hợp đã đến thời hạn trả nợ (đối với hợp đồng vay có kỳ hạn) hoặc đã hết thời hạn thông báo về vấn đề trả nợ (đối với hợp đồng vay không kỳ hạn) mà bên vay không hoàn trả đồng thời chị không tự thỏa thuận được với chị A về việc hoàn trả khoản tiền thì chị có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. 

Trong trường hợp này, với những thông tin chị cung cấp chúng tôi xác định thẩm quyền giải quyết đối với trường hợp này thuộc về Tòa án nhân dân. Do vậy, chị có thể chuẩn bị đơn khởi kiện dân sự và gửi đến Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi chị A đang cư trú hoặc làm việc để đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện trong trường hợp này bao gồm:

  • Đơn khởi kiện;
  • Hợp đồng vay tiền hoặc các chứng cứ chứng minh khác về thỏa thuận cho vay (nếu có);
  • Giấy tờ xác nhận cư trú của chị A;
  • Giấy tờ tùy thân của chị.

Trong quá trình giải quyết vụ việc tại Tòa án, chị có thể đề nghị xem xét về trách nhiệm đồng hoàn trả khoản vay của chồng chị A. Tại Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng như sau: 

“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

…”

Như vậy, nếu có căn cứ để xác định khoản vay này do hai vợ chồng cùng thực hiện hoặc do chị A tự thực hiện nhưng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như nhu cầu ăn, ở, học tập của các con, như cầu khám bệnh, chữa bệnh của các thành viên trong gia đình… thì chồng chị A vẫn có nghĩa vụ cùng chị A hoàn trả cho chị khoản vay này. 

THỨ BA, ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ CHỊ A BỊ MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN:

Nếu trong trường hợp vụ việc của chị đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết và có quyết định trong đó ghi nhận nội dung yêu cầu bên vay có nghĩa vụ hoàn trả lại khoản tiền đã vay cho chị nhưng bên vay vẫn không hoàn trả thì chị có quyền liên hệ với cơ quan thi hành án để đề nghị cơ quan cơ thi hành án cưỡng chế thi hành án và xử lý các tài sản thuộc sở hữu của bên vay để thu hồi lại khoản tiền này cho chị. 

Tuy nhiên, thủ tục cưỡng chế thi hành án chỉ được tiến hành khi bên vay có điều kiện để thi hành án. Điều kiện để thi hành án theo quy định của luật thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án. 

Do đó, nếu trong trường hợp cơ quan thi hành án xác định bên vay không có điều kiện để thi hành án thì chưa thể cưỡng chế thi hành án và thu hồi lại ngay toàn bộ khoản tiền này cho chị. 

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi