Khách hàng chây ì trả nợ: Chủ cửa hàng có thể khởi kiện để đòi tiền không?

Khách hàng chây ì trả nợ: Chủ cửa hàng có thể khởi kiện để đòi tiền không?

2026-06-08 13:22:49 1

Câu hỏi: Em có kinh doanh của hàng bán phụ kiện, có 1 người khách qua mua hàng bên e nhiều lần và có công nợ bên em một khoản là 21 triệu. Em điện thoại thì hẹn nay, hẹn mai và giờ điện thoại thì không được nữa, với trường hợp này em phải làm sao.

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, người khách hàng đang vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán tài sản

Theo quy định của pháp luật dân sự, hợp đồng mua bán tài sản được hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Hình thức của hợp đồng được thể hiện dưới dạng lời nói hoặc bằng văn bản. Đối với trường hợp của bạn, hai bên đã giao kết với nhau một hợp đồng mua bán tài sản, theo đó, bạn là bên bán tài sản, có nghĩa vụ giao tài sản là điện thoại cho khách hàng. Khách hàng có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền mua hàng theo thời hạn các bên đã thỏa thuận trước đó.

Căn cứ quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 về nghĩa vụ trả tiền trong Hợp đồng mua bán tài sản như sau:

“Điều 440. Nghĩa vụ trả tiền

1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.

2. Trường hợp các bên chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản thì thời hạn thanh toán tiền cũng được xác định tương ứng với thời hạn giao tài sản. Nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn giao tài sản và thời hạn thanh toán tiền thì bên mua phải thanh toán tiền tại thời điểm nhận tài sản.

3. Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.”

Theo quy định trên, khách hàng (bên mua) có nghĩa vụ phải thanh toán tiền mua điện thoại theo thời hạn và mức tiền các bên đã thỏa thuận. Trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì ngoài số tiền phải trả theo hợp đồng mua bán, còn phải trả thêm tiền lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá 20%/năm, nếu không có thỏa thuận thì áp mức lãi suất là 10%/năm.

Đối với trường hợp của bạn, khách hàng đã chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền mua điện thoại, vì vậy, theo quy định pháp luật thì ngoài phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền, khách hàng còn phải trả lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thứ hai, người bán hàng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán

Trong giao dịch dân sự, khi một bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên có quyền thì bên bị xâm phạm có quyền khởi kiện bên vi phạm ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Căn cứ quy định tại Điều 429 BLDS năm 2015, thời hiệu khởi kiện về hợp đồng như sau:

“Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.”

Theo quy định trên, thời hiệu khởi kiện với những tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Theo đó, đối với trường hợp của bạn thì thời hiệu khởi kiện là 03 năm, kể từ ngày khách hàng phải thanh toán tiền mua điện thoại cho bạn theo thỏa thuận của các bên.

Về tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn đang cư trú, làm việc sẽ có thẩm quyền giải quyết. Đối với trường hợp của bạn, tòa án nhân dân cấp quận/huyện/thành phố nơi khách hàng đang cư trú, làm việc là tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Theo đó, bạn cần làm đơn khởi kiện, kèm theo là các tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc hai bên có tồn tại hợp đồng mua bán tài sản, khách hàng đang vi phạm nghĩa vụ thanh toán gửi đến Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, người bán hàng có quyền tố giác tội phạm đến cơ quan công an khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;”

Theo quy định trên, người nào nhận được tài sản từ người khác trị giá từ 4.000.000 đồng bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Theo thông tin bạn cung cấp, khách hàng đã nhận được điện thoại trị giá 21 triệu từ bạn thông qua hợp đồng mua bán tài sản giữa hai bên, nếu có căn cứ cho rằng người khách hàng này có sử dụng các thủ đoạn gian dối như nói dối,có hành vi dối trá hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt chiếc điện thoại đó thì bạn có quyền làm đơn tố giác tội phạm về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS gửi đến cơ quan công an xã/phường nơi xảy ra việc mua bán để họ xác minh, làm rõ. Nếu có đủ dấu hiệu, căn cứ thì cơ quan công an có thể ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi