Nội dung câu hỏi: Tuần trước gia đình tôi có bị kẻ trộm vào nhà lấy trộm một khoản tiền khoảng trên 4 triệu đồng. Tôi có nghi ngờ 1 đối tượng và có làm đơn trình báo với cơ quan chức năng. Trong đơn có ghi rõ là tôi nghi ngờ người đó và ghi cả tên đối tượng nghi ngờ. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo của tôi cơ quan CA xã có vào cuộc điều tra và xác định người tôi nghi ngờ không phải là người ăn trộm. Tôi cũng thấy thoải mái vì người quen mình nghi ngờ mà không phải là ăn trộm thì tốt rồi. Trong mấy ngày chồng tôi có đăng video quay lại camera cảnh tên ăn trộm lấy tiền lên mạng. Trong video đăng chồng tôi có nói câu là: nghi ngờ người nhà bà X với mục đích là rung cây dọa khỉ để cháu nào trót lấy thì đến nói chuyện sẽ k đưa ra chính quyền. Tuy giờ chưa tìm đc ng lấy trộm nhưng có 1 việc xảy ra tiếp như sau: Người bị tôi nghi ngờ trong đơn trình báo (do họ đc xác định k phải ng trộm) đến nhà tôi nói k ra gì. Và bảo việc tôi nghi ngờ họ là không đc. Họ bảo công an nói với họ là tôi chỉ đích danh họ là ng tôi nghi ngờ và nay đòi kiện ngược lại gđ tôi. Vậy kính nhờ luật sư tư vấn giúp tôi làm đơn trình báo và nghi ngờ sai ng như vậy là có sai pháp luật và vi phạm gì không ạ. Tôi xin cảm ơn rất nhiều.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:
.jpg)
1. Về trình báo, tố giác tội phạm
Căn cứ Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố quy định như sau: “1.Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”
Như vậy, nếu nghi ngờ về việc người nào thực hiện hành vi trộm cắp thì gia đình chị có quyền làm đơn trình báo về việc nghi ngờ hành vi có dấu hiệu của tội phạm. Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm phải tiếp nhận tin báo về tội phạm và xử lý.
Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về quyền của người tố giác, báo tin về tội phạm thì người trình báo có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm.
Như vậy, việc gia đình chị có đơn trình báo tới cơ quan công an khi nghi ngờ ai đó thực hiện hành vi phạm tội, được xác định là hành vi hợp pháp, khi trình báo nếu gia đình chị không yêu cầu cơ quan công an giữ bí mật về việc trình báo thì cơ quan công an có thể tiết lộ thông tin cho bên bị nghi ngờ là kẻ trộm.
Tuy nhiên, ngoài việc gửi đơn trình báo tới cơ quan công an thì chồng chị còn có hành vi đưa thông tin chưa xác thực, chứa nội dung gây ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm của người khác trên mạng xã hội. Hành vi này được xác định là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy từng mức độ mà xem xét xử lý trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính như sau:
2. Về trách nhiệm hình sự về hành vi đăng tải video lên mạng xã hội
Căn cứ Điều 155 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội làm nhục người khác như sau: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm;”
Như vậy, người nào có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác. Tuy nhiên có thể nhận định hành vi của chồng chị là đăng video lên mạng xã hội và nói một câu là nghi ngờ người nhà bà X là kẻ trộm, chưa nghiêm trọng đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi này chưa đủ để cấu thành của tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự nêu trên.
Căn cứ Điều 156 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về tội vu khống như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 1 năm:
“a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.”
Theo thông tin chị cung cấp, hành vi của của chồng chị đã đăng video lên mạng xã hội và có nói câu là nghi ngờ người nhà gia đình nhà bà X là kẻ trộm. Như vậy thì chưa có căn cứ để xác minh chồng chị cố tình bịa đặt hoặc loan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị nghi ngờ.
Do đó, hành vi của chồng chị cũng chưa đủ để cấu thành tội vu khống, chồng chị sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống.
3. Về xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi đăng tải video lên mạng xã hội.
Với hành vi đăng video lên mạng nghi ngờ người nhà bà X là kẻ trộm của chồng chị có thể bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội, trang thông tin điện tử được thiết lập thông qua mạng xã hội theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, thì hành vi của chị A có thể bị xử phạt hành chính từ 20 triệu đến 30 triệu đồng nếu có hành vi Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
“Điều 95. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội
1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; …”
Theo đó, đối với hành vi đăng video trên mạng xã hội, có nội dung thể hiện một người cụ thể nào đó thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trong khi chưa đủ chứng cứ chứng minh, thì hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cung cấp chia sẻ thông tin xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của cá nhân theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP nêu trên.
Ngoài ra, theo như thông tin chị cung cấp, thì bên kia cũng có hành động đăng tải các bài viết, chứa đựng lời lẽ gây ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của gia đình chị. Đây cũng là một căn cứ để chị có thể thực hiện việc tố cáo tới cơ quan công an về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của gia đình chị.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: