Mình có đầu tư vốn cho 1 người làm gỗ vườn.... Và giao cho người đó phụ trách đầu vào đầu ra. Lợi nhuận người đó chia cho mình tùy theo người đó tính, mình không đòi hỏi gì cả. Lúc đầu người đó nói nếu không làm nữa thì người đó sẽ hoàn trả lại hết số vốn cho mình.
Trong thời gian làm ăn với nhau ,vốn cứ gởi đi mà không thấy vốn về mình cảm thấy bất ổn và muốn rút vốn về. Không có hợp đồng góp vốn. Mình mới đưa họ đi công chứng nhận nợ. Tới kì hạn họ cũng vẫn không trả tiền cho mình. Đến nay quá hạn cũng đã gần 4 tháng rồi. Mình cho họ trả dần nhưng họ vẫn không gởi trả lấy một ít nào cả. Vẫn khất 2 ngày rồi 3 ngày rồi ... cứ thế khất làm mất thời gian của mình vì từ nhà mình cách nơi người đó ở tới 400km lận.
Mình không hiểu luật mới ra phòng công chứng hỏi thì phòng công chứng nói, công chứng là chứng cho bên kia là có nợ số tiền đó của mình, trường hợp này đưa ra tòa thì chỉ là dân sự, không là hình sự được. Vậy nếu như ra tòa mà bên kia cứ lấy cớ khất lần khất lượt cho tới hết đời, coi như số tiền đó mình bị mất. Bằng chứng chuyển tiền lúc ban đầu mình vẫn lưu giữ thì có tố cáo ra công an được không?
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:
Thứ nhất, về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có quy định về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
…”
Theo quy định nêu trên, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải đáp ứng đủ các yếu tố sau:
- Cố tình đưa ra thông tin gian dối, không đúng sự thật nhằm tạo sự tin tưởng, việc cố tình đưa các thông tin này được thực hiện ngay từ đầu.
- Mục đích của việc đưa thông tin gian dối là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.
Đối chiếu với trường hợp của chị, theo thông tin chị cung cấp chị và ông X có thỏa thuận hợp tác kinh doanh, chị muốn rút lại số tiền mình đã hợp tác nhưng ông X chưa có khả năng hoàn trả theo thỏa thuận. Với những nội dung chị cung cấp Chúng tôi nhận thấy chưa đủ căn cứ để xác định ông X có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định nêu trên. Việc ông X chưa hoàn trả số tiền trong trường hợp này là tranh chấp dân sự, chị có quyền khởi kiện đến Tòa án nhân dân để yêu cầu ông X hoàn trả khoản tiền.
Thứ hai, về việc khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền:
Khi khởi kiện đến Tòa án nhân dân dựa trên thông tin các bên cung cấp, Tòa án sẽ làm rõ quan hệ giữa các bên là quan hệ hợp tác kinh doanh hay quan hệ vay tài sản. Tại Điều 504 Bộ luật dân sự 2015 có quy định hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản.
Căn cứ theo quy định nêu trên có căn cứ xác định thỏa thuận giữa chị và ông X ban đầu là hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên có nghĩa vụ thực hiện theo thỏa thuận. Do đó, nếu chứng minh được các bên có quan hệ hợp tác thì chị có quyền yêu cầu ông X hoàn trả lại số tiền ban đầu chị đã góp để cùng hợp tác.
Tuy nhiên, sau đó chị và ông X có ký hợp đồng vay tiền, hợp đồng này được công chứng tại văn phòng công chứng. Do vậy, có căn cứ để xác định các bên đã cùng đồng ý thỏa thuận chuyển từ quan hệ hợp tác kinh doanh sang quan hệ vay tài sản.
Tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, theo đó, bên vay có nghĩa vụ trả đủ số nợ khi đến thời hạn. Trong trường hợp ông X không hoàn trả số tiền đúng thời hạn theo thỏa thuận thì đây được xác định là hành vi vi phạm hợp đồng, vi phạm pháp luật liên quan đến quan hệ vay tài sản.
Khi đó, chị có quyền khởi kiện đến Tòa án nhân dân khu vực nơi ông X đang cư trú để yêu cầu ông X hoàn trả khoản vay khi đến hạn. Hồ sơ khởi kiện gồm:
-
Đơn khởi kiện;
-
Hợp đồng vay tài sản;
-
Giấy tờ chứng minh chuyển tiền;
-
Chứng cứ chứng minh đã yêu cầu trả tiền nhiều lần nhưng ông X không hoàn trả;
-
Giấy tờ chứng minh cư trú của ông X;
-
Giấy tờ tùy thân của chị.
Sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án với nội dung ghi nhận việc ông X phải hoàn trả tiền cho chị nhưng ông X không hoàn trả thì chị có quyền đề nghị cơ quan thi hành án tiến hành cưỡng chế thi hành án. Trường hợp này việc có thi hành án để trả tiền lại cho chị được hay không còn phụ thuộc vào khả năng tài chính và tài sản của ông X. Trường hợp cơ quan thi hành án sau khi xác minh xác định ông X không có khả năng tài chính, không có tài sản để thi hành án thì tạm thời chưa thi hành án để thu hồi khoản tiền cho đến khi ông X có điều kiện để thi hành án.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: