Câu hỏi: Tôi có đậu xe ôtô bên lề đường. Đậu cách lề 20cm. Đúng chiều, không có bảng cấm đậu đỗ. Nhưng tôi không bật đèn mí. Xe máy đụng vào đít xe tôi tài xế xe máy bị chết. Tôi có phải chịu trách nhiệm dân sự không?
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin chị cung cấp, chị đỗ xe ô tô bên lề đường, cách lề đường 20cm, đúng chiều, tại vị trí không có bảng cấm đỗ xe. Tuy nhiên, chị không bật đèn tín hiệu. Người điều khiển xe máy đã tông vào xe chị dừng đỗ, hậu quả người điều khiển xe máy chết.
Về trách nhiệm dân sự, theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.
Như vậy, trong trường hợp này, để xác định chị có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hay không, cần xem xét lỗi của các bên trong việc xảy ra tai nạn giao thông. Căn cứ theo quy định tại Điều 18 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024:
"Điều 18. Dừng xe, đỗ xe
1. Dừng xe là trạng thái đứng yên tạm thời của xe trong một khoảng thời gian cần thiết đủ để cho người lên xe, xuống xe, xếp dỡ hàng hóa, kiểm tra kỹ thuật xe hoặc hoạt động khác. Khi dừng xe không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái, trừ trường hợp rời khỏi vị trí lái để đóng, mở cửa xe, xếp dỡ hàng hóa, kiểm tra kỹ thuật xe nhưng phải sử dụng phanh đỗ xe hoặc thực hiện biện pháp an toàn khác.
2. Đỗ xe là trạng thái đứng yên của xe không giới hạn thời gian. Khi đỗ xe, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được rời khỏi xe khi đã sử dụng phanh đỗ xe hoặc thực hiện biện pháp an toàn khác. Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải đánh lái về phía lề đường, chèn bánh.
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi dừng xe, đỗ xe trên đường phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết khi ra, vào vị trí dừng xe, đỗ xe;
b) Không làm ảnh hưởng đến người đi bộ và các phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
4. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:
a) Bên trái đường một chiều;
b) Trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc mà tầm nhìn bị che khuất;
c) Trên cầu, trừ những trường hợp tổ chức giao thông cho phép;
d) Gầm cầu vượt, trừ những nơi cho phép dừng xe, đỗ xe;
đ) Song song cùng chiều với một xe khác đang dừng, đỗ trên đường;
e) Cách xe ô tô đang đỗ ngược chiều dưới 20 mét trên đường phố hẹp,
dưới 40 mét trên đường có một làn xe cơ giới trên một chiều đường;
g) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;
h) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 05 mét tính từ mép đường giao nhau;
i) Điểm đón, trả khách;
k) Trước cổng và trong phạm vi 05 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ra, vào;
l) Tại nơi phần đường có chiều rộng chỉ đủ cho một làn xe cơ giới;
m) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;
n) Che khuất biển báo hiệu đường bộ, đèn tín hiệu giao thông;
o) Trên đường dành riêng cho xe buýt, trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; trên lòng đường, vỉa hè trái quy định của pháp luật.
5. Trên đường bộ, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì chỉ được dừng xe, đỗ xe sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình.
6. Trên đường phố, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe sát theo lề đường, vỉa hè phía bên phải theo chiều đi của mình; bánh xe gần nhất không được cách xa lề đường, vỉa hè quá 0,25 mét và không gây cản trở, nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
7. Trong trường hợp gặp sự cố kỹ thuật hoặc bất khả kháng khác buộc phải đỗ xe, khi đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy hoặc tại nơi không được phép đỗ, phải có báo hiệu bằng đèn khẩn cấp hoặc đặt biển cảnh báo về phía sau xe để người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết".
Như vậy, căn cứ theo các quy định đã nêu trên, khi thực hiện việc dừng, đỗ xe, người điều khiển phương tiện giao thông có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật liên quan đến dừng, đỗ xe theo các quy định tại 18 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024.
Trong trường hợp của chị, chị đỗ xe cách lề đường 20cm, đúng chiều. Tuy nhiên, chị không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết, trước khi rời khỏi xe chị không thực hiện các biện pháp an toàn, nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy thì phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết. Dựa trên thông tin chị cung cấp thì chúng tôi nhận thấy chị có một số vi phạm khi dừng, đỗ xe. Tuy nhiên, để xác định mức độ lỗi gây ra tai nạn giao thông thì cần chờ kết luận của cơ quan công an xác định nguyên nhân chính xảy ra tai nạn, mức độ lỗi của mỗi bên cũng như xem xét các yếu tố hoàn cảnh, môi trường lúc đó có ảnh hưởng đến việc tham gia giao thông hay không (trời tối, mưa, đoạn đường cong, che khuất tầm nhìn hay không…).
Trong trường hợp sau quá trình điều tra, xác minh cơ quan có thẩm quyền xác định chị có hành vi vi phạm quy định giao thông đường bộ như đã phân phía trên thì có căn cứ để yêu cầu chị bồi thường thiệt hại khi tính mạng người tài xế xe máy bị xâm phạm.
Tại Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm như sau:
“1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Mức bồi thường thiệt hại được xác định dựa trên mức độ lỗi của mỗi bên. Nghĩa vụ bồi thường của chị có thể sẽ không phải bồi thường toàn bộ thiệt hại mà cần căn cứ vào tỷ lệ lỗi của mỗi bên, xác định phía bên người đi xe máy có những hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là nguyên nhân gây tai nạn giao thông hay không.
Việc xác định mức độ, tỷ lệ lỗi của mỗi bên cần chờ kết luận của cơ quan công an. Tuy nhiên, các bên có thể tự thương lượng, thỏa thuận với nhau về mức bồi thường thiệt hại. Trường hợp không thỏa thuận được thì một trong các bên có quyền khởi kiện ra tòa án để yêu cầu giải quyết, mức bồi thường được xác định căn cứ theo quy định tại Điều 591 đã nêu trên.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: