Điều khiển xe máy gây tai nạn chết người: Khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại

Điều khiển xe máy gây tai nạn chết người: Khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại

2026-06-08 08:47:42 2

Câu hỏi: Tôi điều khiển xe mô tô xe máy không may gây tai nạn, bạn tôi người đằng sau mất do chấn thương phần đầu mất máu nhiều. Vậy cho tôi hỏi tôi phải chịu trách nhiệm gì về vụ việc trên?

Tình tiết bổ sung: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông có sử dụng rượu.

 Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

 Đối với một vụ việc về tai nạn giao thông, để xác định chính xác trách nhiệm pháp lý của chủ thể thực hiện hành vi thì cần có đầy đủ hồ sơ tài liệu từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, thông tin mà anh đang có để cung cấp chưa đủ cơ sở Luật sư khẳng định được trách nhiệm pháp lý mà anh phải chịu từ hành vi của mình. Luật Tháng Mười sẽ phân tích những khả năng và giải pháp pháp lý có thể xảy ra theo thông tin ban đầu mà anh cung cấp.

I. KHẢ NĂNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Căn cứ Điều 3 Thông tư 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIX của bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông quy định như sau:

“Điều 3. Về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự)

1. Hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắc giao thông đường bộ và hành vi này phải là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả về tính mạng, sức khỏe và tài sản.

2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

a) Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn;

c) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở.”

Đối chiếu với hai quy định trích dẫn nêu trên, hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông của anh dẫn đến thiệt hại là 01 người chết, ngoài ra không có thiệt hại khác thì bị truy cứ trách nhiệm hình sự khi có đủ yếu tố sau:

Mặt khách thể: Thiệt hại về sức khỏe,tính mạng, tài sản của người khác. Theo thông tin mà anh cung cấp thì thiệt hại là 01 người chết do đó trường hợp này đủ yếu tố về mặt khách thể của Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Mặt chủ thể: Người vi phạm phải từ đủ 16 tuổi trở lên, không mắc mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Trường hợp anh dưới 16 tuổi hoặc mắc các bệnh được liệt kê nêu trên thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Mặt khách quan:

- Quá trình tham gia giao thông có vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ được liệt kê từ điều 9 đến điều 38 của Luật an toàn giao thông đường bộ 2008 dẫn đến tai nạn;

- Hành vi vi phạm của người tham gia giao thông là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại tính mạng.

Yếu tố này được hiểu rằng, trong quá trình tham gia giao thông anh vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn và hành vi vi phạm của anh phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bạn anh bị chết thì mới đủ căn cứ cấu thành mặt khách quan của Tội phạm này. Do đó, nếu anh không vi phạm quy tắc an toàn giao thông hoặc có vi phạm dẫn đến tai nạn nhưng tai nạn đó không phải là nguyên nhân dẫn đến bạn của anh mất thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Mặt chủ quan: Thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.

- Vô ý do tự tin, trong trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho người khác nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

- Vô ý do cẩu thả, trường hợp người vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho người khác, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Trường hợp hành vi của anh thỏa mãn các yếu tố nêu trên đặc biệt là yếu tố khách quan thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Thông tin mà Luật Tháng Mười có được, trước khi tham gia giao thông anh có sử dụng rượu bia, gây tại nạn làm chết 01 người, trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở thì anh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017.

II. TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Căn cứ Điều 584 Quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

“Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”

Quy định nêu trên, trường hợp anh có lỗi trực tiếp dẫn đến bạn anh chết, thì người thân của bạn anh có quyền yêu cầu anh bồi thường thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất (thiệt hại về tính mạng) và thiệt hại tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

1. Đối với bồi thường thiệt hại về vật chất.

Thiệt hại về vật chất trong trường hợp này là thiệt hại về tính mạng. Hiện nay Bộ luật dân sự 2015 không quy định chính xác về giá trị tài sản bồi thường thiệt hại về tính mạng, do đó các bên nên tự thỏa thuận mức bồi thường, trường hợp các bên không thể thỏa thuận được thì gia đình bị hại có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ để xác định mức bồi thường hợp lý được quy định tại Khoản 1 Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

Ngoài ra, anh có thể tham khảo căn cứ xác định bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được hướng dẫn cụ thể tại Khoản 2.1 Điều 3 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

“2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.”

2. Bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm

Căn cứ Khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau: “2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm.. và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu. Việc bồi thường tổn thất về tinh thần do các bên tự thỏa thuận, trường hợp không thỏa thuận được thì bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án xét xử, tuy nhiên mức tối đa để bồi thường tổn thất về tinh thần sẽ không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (mức lương cơ sở hiện tại là 2.340.000 đồng).

III. KIẾN NGHỊ 

Anh có thể tham khảo một trong các phương án dưới đây để đưa ra hướng xử lý phù hợp:

- Khả năng pháp lý cao nhất mà anh có thể bị xử lý là bị truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó trường hợp Cơ quan công an đang tiến hành xác minh vụ việc thì anh nên chủ động tiếp cận hồ sơ bệnh án để bước đầu xác định nguyên nhân chết của bệnh nhân, từ đó anh có thể xác định một số vấn đề mà Luật Tháng Mười đã đề cập về mặt khách quan của Tội phạm. Tuy nhiên, tất cá các vấn đề vẫn phải chờ kết luận từ phía Cơ quan điều tra để có hướng giải quyết tiếp theo;

- Nếu anh có lỗi dẫn đến thiệt hại cho bạn của anh, thì nên chủ động bồi thường thiệt hại và cân nhắc mức bồi thường thiệt hại dựa trên hoàn cảnh, điều kiện thực tế của gia đình anh và gia đình của bị hại. Bởi lẽ, việc bồi thường thiệt hại là nghĩa vụ đương nhiên của người gây thiệt hại và được xem là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nếu anh bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

 Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lònàng vg của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi