Đất do cha mẹ mua nhưng nhờ anh trai đứng tên: Khi ly hôn, chị dâu có quyền lợi gì?

Đất do cha mẹ mua nhưng nhờ anh trai đứng tên: Khi ly hôn, chị dâu có quyền lợi gì?

2026-04-18 23:18:32 2

Nội dung anh yêu cầu tư vấn: Nhờ luật sư tư vấn giúp em vấn đề này ạ: Ba mẹ em bán đất và nhà trên đất vào khoảng năm 2008 (còn giấy tờ mua bán). Đến năm 2015 ba mẹ em mua miếng đất nhưng do đã quá tuổi đứng tên nên nhờ vợ chồng anh trai em đứng tên (chỉ nhờ đứng tên chứ không cho, Anh em đã kết hôn vào năm 2001). Nay anh em chuẩn bị ly hôn. Vậy chị dâu em có quyền lợi gì với miếng đất đó không?

Tài sản đó có được coi là tài sản riêng của anh trai em không khi ba em chứng minh được đó là tiền riêng của ba em dùng để mua đất?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:


Theo thông tin anh cung cấp, nguồn gốc hình thành mảnh đất là từ số tiền ba mẹ anh bán đất và tài sản gắn liền với đất năm 2008. Sau đó ba mẹ anh có mua 1 mảnh đất khác nhưng ba mẹ anh không đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là GCNQSDĐ) do đã quá tuổi đứng tên. Mà theo quy định tại Điều 5 Luật Đất đai 2013 (văn bản có hiệu lực tại thời điểm năm 2015) quy định về người sử dụng đất như sau:

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này, bao gồm:

2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);

…”

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên cho thấy pháp luật đất đai không có quy định giới hạn về độ tuổi đứng tên trên GCNQSDĐ. Theo đó, việc ba mẹ bạn không đứng tên trên GCNQSDĐ với lý do quá tuổi đứng tên là không phù hợp với quy định của pháp luật.

Mặt khác, Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định: “16. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”

Vậy, từ các quy định nêu trên có thể thấy người đang đứng tên trên GCNQSDĐ (cụ thể là vợ chồng anh trai anh) được xác định là người sử dụng đất hợp pháp. Do đó, khi vợ chồng anh trai bạn ly hôn thì vấn đề tài sản có thể được giải quyết như sau:

TRƯỜNG HỢP 1: Anh trai anh có bằng chứng để chứng minh đây là tài sản được cha mẹ tặng cho riêng:

Về nguyên tắc, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung của vợ, chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như vậy, theo quy định nêu trên anh trai của anh cần chứng minh đây là tài sản được cha mẹ tặng cho riêng thông qua hợp đồng tặng cho đất, tài sản gắn liền với đất hoặc tặng cho một khoản tiền nhất định để mua đất. Đối với tài sản riêng của chồng thì khi ly hôn không có căn cứ để phân chia tài sản đó cho người vợ.

TRƯỜNG HỢP 2: Anh trai của anh không có bằng chứng để chứng minh mảnh đất là tài sản riêng.

Trong trường hợp này, mảnh đất có thể coi là tài sản chung của vợ chồng anh chị của anh theo quy định đã trích dẫn ở trường hợp trên và khi ly hôn tài sản đó sẽ được phân chia theo thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì hai vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án phân chia theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

…”

Như vậy, trong trường hợp này chị dâu và anh trai của anh có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với mảnh đất. Theo đó, chị dâu của anh có quyền yêu cầu phân chia mảnh đất khi ly hôn.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi