Đất đã cấp sổ đỏ: có bị thu hồi lại để chia thửa kế không?

Đất đã cấp sổ đỏ: có bị thu hồi lại để chia thửa kế không?

2026-04-11 14:29:27 2

Nội dung câu hỏi: Gia đình chúng tôi sinh sống và canh tác trên mảnh đất hiện tại hơn 30 năm. Đất được cấp Giấy Chứng Nhận quyền SD đất mang tên bố tôi năm 2010. Đất ngày xưa khi bố mẹ tôi ở riêng được bà nội tôi chia cho các con mỗi người 1 phần riêng (khi còn là đất hoang, tự nhận không có giấy tờ chủ sở hữu). Giờ bố tôi mất đi, anh chị em của bố muốn Bà Nội (còn sống, không chung hộ khẩu với bố tôi) lấy lại đất để chia cho 1 người bác khác, đã cho người vào đang tiến hành đào bới xây dựng trên mảnh đất và yêu cầu mẹ tôi phải chia đất, ao cho bác làm và sinh sống (bác đi công tác có gia đình nhà cửa từ rất lâu). Do việc phân chia không thỏa mãn điều kiện 2 bên nên chúng tôi yêu cầu dừng thi công. Bác tôi muốn kiện gia đình tôi để thu hồi lại đất chia lại cho những người con khác của bà. Vậy trong trường hợp này chúng tôi có phải trả lại toàn bộ số đất để cho bà chia lại không? Vì chú tôi sống cùng bà nên số đất, rừng của chú cũng phải gộp lại để chia đúng không?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

 

I. VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI VỚI PHẦN DIỆN TÍCH ĐẤT ĐỨNG TÊN BỐ CHỊ

Theo thông tin chị cung cấp, phần diện tích tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bố chị. Tại Khoản 21 Điều 3 Luật đất đai 2024 có quy định như sau:

“21. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của các luật có liên quan được thực hiện theo quy định của Luật này có giá trị pháp lý tương đương như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại Luật này”.

Căn cứ theo quy định nêu trên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy tờ ghi nhận quyền sử dụng đất của người sử dụng đất, là căn cứ để xác định quyền của người sử dụng đất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra.

Với trường hợp của chị, bố chị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đó bố chị đang được xác định là người sử dụng đất hợp pháp đối với phần diện tích đất này. Những người không có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trên phần diện tích đất này nếu như không có sự đồng ý của bố chị. 

Hiện tại, do bố chị đã mất do đó sau khi bố chị mất sẽ phát sinh các vấn đề liên quan đến phân chia di sản thừa kế. Nếu bố chị mất không để lại di chúc thì phần đất thuộc sở hữu của bố chị sẽ được phân chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố chị. Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố chị bao gồm bố, mẹ của bố chị (nếu còn sống tại thời điểm bố chị mất), vợ hợp pháp của bố chị và tất cả các con của bố chị. 

Theo như nội dung đã phân tích trên, bác chị không có tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời bác chị cũng không phải là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất để hưởng di sản thừa kế của bố chị do đó việc bác chị tự ý vào đào bới, xây dựng trên đất khi chưa có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào về việc yêu cầu gia đình chị trả lại đất và bác chị có quyền với phần diện tích này là hành vi vi phạm, gia đình chị có quyền yêu cầu bác dừng thực hiện hành vi hoặc trực tiếp liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã (phường) để yêu cầu xác định và xử lý hành vi vi phạm của bác chị theo quy định pháp luật.

II. VỀ VIỆC TRẢ LẠI ĐẤT CHO NGƯỜI CHỊ

Theo thông tin chị cung cấp nguồn gốc đất là ông bà khai hoang nhưng hiện tại đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố chị, do vậy bố chị đang được xác định là người sử dụng đất hợp pháp. Nếu bà chị hoặc bác chị muốn khởi kiện để yêu cầu trả lại đất và phân chia cho các bác, các chú thì người khởi kiện phải có chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất là của ông bà và việc cấp Giấy chứng nhận cho bố chị vào năm 2010 là không đúng với quy định pháp luật. Để chứng minh việc cấp giấy chứng nhận cho bố chị có đúng hay không cần căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2010 được lưu trữ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do chưa xác định được cụ thể hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố chị năm 2010 ghi nhận như thế nào về việc cấp giấy chứng nhận này do đó Chúng tôi chưa đủ cơ sở để khẳng định chắc chắn yêu cầu trả lại đất của người bác có được Tòa án chấp nhận và gia đình chị phải trả lại đất hay không.

Trong trường hợp bác chị, bà chị chứng minh được nguồn gốc phần đất đang đứng tên bố chị là của ông bà (do ông bà khai hoang), năm 2010 khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận cho bố không có giấy tờ, không có người làm chứng hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền… thể hiện việc ông bà tặng cho hoặc ông bà không biết về việc cấp giấy chứng nhận này thì có căn cứ xác định việc cấp giấy chứng nhận cho bố chị chưa phù hợp với quy định pháp luật, khi đó bà chị có quyền khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bố chị.

Trong trường hợp chứng minh được nguồn gốc đất là của ông bà, tại thời điểm năm 2010 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bố chị ông bà có ký tên trên hồ sơ, giấy tờ cấp giấy chứng nhận thể hiện tặng cho bố chị hoặc không có giấy tờ ghi nhận về việc tặng cho nhưng có người làm chứng, hàng xóm, địa phương xác nhận…, bố chị đã sử dụng đất ổn định, lâu dài từ khi được tặng cho đến nay hoặc ông bà không ký tên trên các giấy tờ, không có người làm chứng xác nhận về việc tặng cho nhưng ông bà biết về việc cấp giấy chứng nhận này nhưng không phản đối thì có căn cứ xác định việc cấp giấy chứng nhận cho bố chị là phù hợp với quy định, khi đó việc yêu cầu bố chị trả lại đất trong trường hợp này là không phù hợp. 

Việc xác định ông bà biết hay không biết về việc cấp giấy chứng nhận cho bố chị có thể căn cứ theo chính sách tại thời điểm cấp giấy chứng nhận năm 2010 như địa phương có thông báo, niêm yết công khai rộng rãi hay không? Có thông báo nào gửi về gia đình bà chị về việc cấp giấy chứng nhận không?...

Ngoài ra, do bố chị đã mất nên sẽ phát sinh việc phân chia thừa kế và bà chị là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được quyền hưởng di sản do bố chị để lại do đó bà chị có quyền khời kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế mà mình được hưởng trong số tài sản do bố chị để lại.

Đối với việc lấy lại đất của người chú: Việc người chú có bị lấy lại đất hay không cũng cần căn cứ vào hồ sơ đất đai tại thời điểm người chú được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu việc cấp giấy chứng nhận cho bố chị và chú chị không đúng với quy định của pháp luật thì có căn cứ để những người có quyền lợi liên quan đến các phần đất này khởi kiện đến Tòa án yêu cầu xem xét về việc cấp giấy chứng nhận và phân chia theo quy định pháp luật.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi