Cơ quan nào giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động trong trường học?

Cơ quan nào giải quyết tranh chấp hợp đồng lao động trong trường học?

2026-03-30 21:09:24 1

Tháng 12/2019, tôi ký hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP với trường học. Thời hạn 1 năm (từ 12/2019 – 31/11/2020). Sau khi hết hạn HĐLĐ tôi và nhà trường không ký hợp đồng lao động mới bằng văn bản nhưng tôi vẫn tiếp tục làm việc tại trường. Đến ngày 1/12/2021 tôi ký gia hạn hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế có thời hạn 2 năm, từ ngày 1/12/2021 đến ngày 30/11/2023. 

Ngày 17/7/2025 tôi được kế toán trường gọi lên kí bù hợp đồng có thời hạn từ ngày 1/8/2024 đến ngày 31/7/2025 với lí do kế toán quên giờ ký bù. Ngày 18/7/2025 tôi nhận thông báo chấm dứt hợp đồng lao đồng bắt đầu từ ngày 1/8/2025, ngày ký quyết định là ngày 15/7/2025. Lương và các khoản trả cấp của tôi nhận được đến ngày kết thúc hợp đồng lao động là ngày 31/7/2025. Trường hợp này nhà trường đã làm sai luật, tôi phải tìm cơ quan nào giải quyết vấn đề của tôi. Tôi có lên liên đoàn lao động thì liên đoàn trả lời trường học thuộc sở giáo dục, tôi phải vào sở giáo dục, vậy có đúng hay không? Mong nhận được giải đáp.

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin bạn cung cấp: thì bạn đã ký HĐLĐ 3 lần, ngoài ra có những khoảng thời gian hết hạn HĐLĐ, 2 bên không ký HĐLĐ bằng văn bản nhưng bạn vẫn làm việc liên tục từ 12/2019 đến nay.

HĐLĐ lần đầu bạn ký theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP. Đến 12/2021, khi Nghị định 161/2018/NĐ-CP có hiệu lực, bạn và cơ quan đã ký lại HĐLĐ theo Nghị định 161/2018/NĐ-CP với thời hạn là 2 năm (từ 12/2021 – 30/11/2023). Như vậy, kể từ hợp đồng lao động lần 2 thì quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được xác định theo quy định của Bộ luật lao động.

Ngày 30/11/2023, khi HĐLĐ lần 2 hết thời hạn, các bên không ký hợp đồng lao động mới nhưng bạn vẫn tiếp tục làm việc tại đơn vị. Do vậy, căn cứ quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 20 Bộ luật lao động 2019 thì:

“2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:

...

b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 117 của Bộ luật này.

...”

Như vậy, sau ngày 30/11/2023 thì HĐLĐ của bạn đã chuyển thành HĐLĐ không xác định thời hạn. Việc ký bổ sung hợp đồng lao động xác định thời hạn lần 3 từ ngày 01/8/2024 – 31/7/2025 là không phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, ngày 31/7/2025, HĐLĐ không đương nhiên bị chấm dứt do hết thời hạn. Cơ quan chỉ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn nếu có một trong các căn cứ nêu tại Điều 36 Bộ luật lao động 2019:

“Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động”.

Trường hợp cơ quan chấm dứt HĐLĐ với bạn nhưng không thuộc một trong các trường hợp nêu tại Điều 36 hoặc không báo trước một thời gian theo quy định nêu trên thì đây là hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Khi đó, căn cứ Điều 5 Nghị định 24/2018/NĐ-CP, bạn có thể làm đơn khiếu nại lần đầu đến thủ trưởng đơn vị mình và khiếu nại đến cơ quan chủ quản của trường (Sở giáo dục và đào tạo Bình Thuận) về hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

Ngoài ra, bạn có thể trực tiếp gửi đơn lên Sở nội vụ để yêu cầu hòa giải tranh chấp lao động. Trường hợp các biện pháp hòa giải, khiếu nại nêu trên không bảo vệ được quyền lợi của bạn, cơ quan vẫn thực hiện việc chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án khu vực nơi trường học có trụ sở để yêu cầu giải quyết.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi