Có được đòi lại tiền đã trả nợ thay chồng sau ly hôn không?

Có được đòi lại tiền đã trả nợ thay chồng sau ly hôn không?

2026-04-18 22:58:47 3

Nội dung yêu cầu tư vấn: Khi em và chồng cũ thuận tình ly hôn vào tháng 5/2025. Trước đó, em đã trả nợ cho chồng cũ vào tháng 4/2025 (khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, do chồng cũ kinh doanh thua lỗ) và bắt anh ta ghi giấy vay nợ, nhưng chưa cam kết hạn trả. Chỉ yêu cầu trả hàng tháng số tiền 10.000.000d, nhưng đến nay 2/2026 anh ta vẫn chưa có ý định trả. Số tiền được dùng để trả nợ là khoản tiền riêng do em bị tai nạn giao thông và được bồi thường và một phần do vay mượn mẹ ruột. Em muốn xin tư vấn để giải quyết vấn đề này một cách tốt nhất, em xin gửi giấy tờ vay nợ.

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin chị cung cấp thì vợ chồng chị đã ly hôn từ tháng 5/2025, tuy nhiên trong thời kỳ hôn nhân (tháng 4/2025), chị đã trả nợ cho chồng cũ và chồng cũ có ký giấy vay tiền của chị.

Theo quy định tại Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về chế độ tài sản của vợ chồng:

“1. Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 33 đến Điều 46 và từ Điều 59 đến Điều 64 của Luật này.

Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thực hiện theo quy định tại các điều 47, 48, 49, 50 và 59 của Luật này.

2. Các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn.

3. Chính phủ quy định chi tiết về chế độ tài sản của vợ chồng”.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Trường hợp lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. 

Do đó, trong trường hợp vợ chồng chị không có thỏa thuận về việc lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì quan hệ tài sản của vợ chồng chị được áp dụng theo chế độ tài sản theo luật định. Cụ thể:

Điều 213 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về việc sở hữu chung của vợ chồng:

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này”

Về nguyên tắc thì tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng (Khoản 2 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Do vậy, đối với Giấy cho vay tiền được giao kết giữa hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể không có giá trị pháp lý (trừ trường hợp chị chứng minh được số tiền cho chồng cũ vay là tài sản riêng của chị và khoản nợ của chồng cũ là nợ riêng của người chồng). Cụ thể, trong trường hợp của chị:

- Đối với khoản nợ của chồng cũ: khoản nợ này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, do người chồng hoạt động kinh doanh không hiệu quả. Do đó, căn cứ theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, đây được xác định là khoản nợ chung của vợ chồng chị.

Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3. Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

4. Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;

5. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.

- Đối với số tiền chị dùng để trả nợ cho chồng cũ: số tiền này vợ chồng chị có được trong thời kỳ hôn nhân (là tiền bồi thường do chị bị tai nạn). Đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng, do theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tài sản riêng:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung (Khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014).

Như vậy, có thể thấy, tài sản mà chị cho chồng cũ vay là tài sản chung của vợ chồng, được dùng để thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Do đó, giấy vay tiền mà hai vợ chồng chị ký không làm phát sinh nghĩa vụ trả tiền của người chồng. Đối với số tiền vay của mẹ đẻ chị thì hai vợ chồng đều có nghĩa vụ liên đới để trả nợ mẹ đẻ của chị.

Giả sử chị chứng minh được khoản tiền mà mình dùng cho chồng cũ vay là tài sản riêng của chị và mục đích sử dụng số tiền là để trả nợ riêng của người chồng thì người chồng có nghĩa vụ trả tiền chị theo thỏa thuận trong giấy vay tiền hai bên đã xác lập. Theo thỏa thuận thì chồng cũ của chị có nghĩa vụ trả số tiền gốc là 10.000.000 đồng/tháng vào ngày 26 hàng tháng, tuy nhiên đến nay 2/2026 chồng cũ của chị vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Trường hợp này, chị có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp khu vực nơi người chồng cũ đang cư trú, làm việc để được giải quyết. 

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi