Chơi lô đề bị khởi tố hình sự có được hưởng án treo không?

Chơi lô đề bị khởi tố hình sự có được hưởng án treo không?

2025-11-03 13:26:45 386

Câu hỏi yêu cầu tư vấn:

Em có người cháu đánh lô, đề bị công an bắt tổng số tiền các lần đánh khoảng 6-7tr. Tính ra cả tháng khá nhiều. Bị tạm giam khoảng 9 ngày. Và đã hoàn thiện hồ sơ để khởi tố. Cháu em chưa có tiền án. Tiền sự gì, nơi cư trú rõ ràng. Gia đình bố cháu em lại là thương binh. Vậy cho em hỏi cháu em có được hưởng án treo không ạ.

Mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Luật Tháng Mười:

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Theo đó Điều 2 Nghị quyết 02/2018 NQ-HĐTP TANDTC quy định về điều kiện để hướng án treo như sau:

Điều 2. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

2. Có nhân thân tốt.

Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

Đi với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

3. Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trlên, trong đó có ít nht 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sựvà không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4. Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

5. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy him cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Căn cứ vào Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP nêu trên, để cháu của anh có thể xem xét được hưởng án treo thì phải đáp ứng các điều kiện như sau:

  • Điều kiện thứ nhất về mức án: Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định Tòa án phải tuyên anh với mức án là 3 năm tù trở xuống. Quy định này hiểu rằng, nếu Tòa án tuyên cháu của anh với mức án là trên 3 năm tù trở lên, ví dụ 3 năm tù 1 ngày thì không được hưởng án treo.
  • Điều kiện thứ hai là về nhân thân tốt được quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 02/2018 NQ-HĐTP. Theo thông tin mà anh cung cấp, cháu của anh chưa có tiền án, tiền sự nào đồng thời trong quá trình sinh sống và làm việc cháu luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách pháp luật và nghĩa vụ công dân tại nơi cư trú thì cháu đáp ứng đủ điều kiện tại Khoản 2 Điều 2 nêu trên.
  • Điều kiện thứ ba là điều kiện về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết nêu trên hiểu rằng, nếu cháu của anh có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó phải có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào thì có thể xem xét được hưởng án treo. Tuy nhiên, trường hợp cháu của anh có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 thì ít nhất các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (phải có ít nhất một tình tiết quy định tại điều 51) của anh phải gấp 2 lần các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì mới đủ điều kiện để được hưởng án treo.
  • Điều kiện thứ tư là về nơi cư trú, nơi làm việc. Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết 02/2018 NQ-HĐTP quy định để đươc xem xét hưởng án treo thì anh phải có nơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định để phục vụ cho quá trình theo dõi và giám sát. Trong đó, nơi cư trú bao gồm nơi đăng ký thường trú và tạm trú; nơi làm việc sẽ được xác định dựa trên hợp đồng lao động hoặc quyết định cả cơ quan, tổ chức với thời hạn làm việc là từ 01 năm trở lên. Theo thông tin mà anh cung cấp, cháu có nơi cư trú rõ ràng phù hợp với điều kiện quy định tại Khoản 4 Điều 2 nên cháu của anh đáp ứng đủ điều kiện về nơi cư trú.
  • Điều kiện thứ năm. Khoản 5 Điều 2 Nghị quyết 02/2018 NQ-HĐTP quy định về việc người phạm tội có thể được hưởng án treo nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Khác với các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 2 về có thể căn cứ vào hồ sơ tài liệu về nhân thân của anh để xác định xem có đủ điều kiện hay không thì Khoản 5 Điều 2 lại phụ thuộc vào sự nhìn nhận của Hội đồng thẩm phán dựa trên mức độ nguy hiểm của hành vi đối với xã hội và thái độ của người phạm tội trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Do đó, nếu tòa án xét thấy khả năng anh có thể tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội thì có thể được hưởng án treo.

Ngoài việc đáp ứng các điều kiện được liệt kê tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018 NQ-HĐTP TANDTC, để hưởng án treo cháu của bạn phải không thuộc các trường hợp được liệt kê tại Điều 3 như sau:

Điều 3. Những trường hợp không cho hưởng án treo

1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã.

3. Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi.

5. Người phạm tội nhiều lần, trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tui.

6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Điều 3 Nghị quyết 02/2018 HĐTP liệt kê 06 trường hợp mà nếu người phạm tội thuộc một trong sáu trường hợp đó thì sẽ không được hưởng án treo. Xét vào trường hợp này, cháu của anh đã thực hiện hành vi đánh bạc nhiều lần trong tháng tuy nhiên chưa có thông tin chính xác về số tiền mà cháu của anh sử dụng đánh bạc trong từng lần là bao nhiêu nên chưa thể xác định được cháu của anh có phạm tội nhiều lần hay không. Theo quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 thì số tiền dùng để đánh bạc của cháu anh phải ít nhất từ 5 triệu đồng trở lên thì mới đủ căn cứ để truy tố trách nhiệm hình sự, do đó để bị coi là phạm tội nhiều lần thì cháu phải phạm tội đánh bạc từ hai lần trở lên mà trong đó ít nhất một lần chưa bị xét xử.  Nếu cháu của bạn phạm tội nhiều lần thì không được hưởng án treo.

Nhìn chung, để được hưởng án treo sẽ phụ thuộc vào nhân thân và thái độ của người phạm tội trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, gia đình mình nên vận động cháu hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra về việc khai báo trung thực những tình tiết liên quan đến vụ án. Đồng thời, trong quá trình xét xử nếu gia đình nhận thấy rằng các tình tiết giảm nhẹ chưa được đưa đầy đủ vào hồ sơ vụ án thì có thể kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng để bổ sung tình tiết giảm nhẹ để làm một trong các căn cứ để hưởng án treo.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi