Cho vay tiền chỉ có chứng cứ chuyển khoản: xử lý thế nào?

Cho vay tiền chỉ có chứng cứ chuyển khoản: xử lý thế nào?

2026-06-19 10:24:07 3

Nội dung yêu cầu tư vấn: Mình đang cho bạn mình vay khoản 1 tỷ đồng do là bạn thân làm ăn mà không có giấy tờ gì cả. Chỉ có tin nhắn facebook với zalo mà tài khoản facebook với zalo của bạn mình đã xóa rồi và thông tin chuyển tiền trên điện thoại. Giờ bạn mình bỏ trốn khỏi địa phương vậy mình có khả năng đòi lại tiền không luật sư. Nếu công an thì như thế nào?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đang phát sinh tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay tài sản. Tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về hợp đồng vay tài sản như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Căn cứ theo quy định của pháp luật nêu trên thì hợp đồng vay tài sản không bắt buộc phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, các bên phải chứng minh được quan hệ vay tài sản này.

Đối với trường hợp của bạn, để yêu cầu bên vay trả tài sản hoặc để cơ quan có thẩm quyền có căn cứ tiếp nhận giải quyết bạn cần phải có chứng cứ chứng minh giữa mình và bên vay có phát sinh quan hệ vay tài sản. Theo thông tin bạn cung cấp, bạn có cho vay số tiền 1 tỷ đồng nhưng không lập hợp đồng cụ thể bằng văn bản mà chỉ nhắn tin zalo, facebook và các thông tin chuyển khoản. Nếu tài khoản zalo, facebook này do chính bên vay lập, các tin nhắn zalo, facebook có thể hiện các nội dung liên quan đến thông tin vay tài sản như số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất... và hoặc thông tin chuyển khoản qua điện thoại có ghi nhận nội dung chuyển khoản là cho vay thì có căn cứ để bạn yêu cầu người bạn này hoàn trả số tiền vay theo đúng thỏa thuận. Trong trường hợp bên vay không hoàn trả đúng hạn thì bạn có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Theo quy định, quan hệ vay tài sản là quan hệ được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự, tuy nhiên trong một số trường hợp có thể cấu thành tội phạm hình sự, cụ thể là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Căn cứ theo quy định pháp luật nêu trên nếu sau khi vay tài sản bên vay tài sản thực hiện một trong các hành vi như dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích để chiếm đoạt tài sản hoặc có tài sản, có điều kiện trả nhưng có tình không trả hoặc đã sử dụng tài sản này vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì có căn cứ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Đối chiếu với thông tin bạn cung cấp, hiện tại bên vay đã bỏ trốn. Tuy nhiên, hành vi bỏ trốn này của bên vay có phải nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hay không thì chưa xác định được. Trong trường hợp này nếu đã đến thời hạn trả nợ nhưng bạn không liên hệ được với bên vay do bên vay bỏ trốn thì bạn có thể làm đơn trình báo và gửi đến cơ quan công an nơi bên vay đang cư trú và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh, điều tra về hành vi vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã nêu trên. 

Nếu sau quá trình điều tra, xác minh cơ quan công an xác định chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì bạn có thể chuẩn bị hồ sơ khởi kiện đến Tòa án cấp khu vực nơi bên vay cư trú để yêu cầu giải quyết. 

Trong trường hợp của bạn, việc bạn có lấy lại được toàn bộ số tài sản mình đã cho vay không còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và khả năng thi hành án của bên vay tài sản.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi