Cho vay tiền cá nhân: Lãi suất, khởi kiện và khả năng thu hồi nợ như nào?

Cho vay tiền cá nhân: Lãi suất, khởi kiện và khả năng thu hồi nợ như nào?

2026-10-29 10:04:55 3

Nội dung câu hỏi: 

Tháng 1/2026 em có cho hàng xóm cạnh nhà em (chị A) vay gần 180tr, lãi suất là 2% tháng. Đầu tháng 3/2026 người vay mang con bỏ về nhà mẹ đẻ (cũng ở Hải Phòng) nhà chồng tuyên bố không chịu trách nhiệm về nợ nần của vợ. 

Em muốn nhờ anh chị luật sư tư vấn về 3 vấn đề: 

  1. Với lãi suất như vậy thì em có vi phạm pháp luật không?
  2. Nếu em kiện bạn này ra pháp luật thì cần làm theo tiến trình như thế nào để đạt kết quả tốt nhất.
  3. Giả sử bạn này không có khả năng trả nợ thì bên em xem như mất trắng số tiền đấy phải không ạ?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, về vấn đề lãi suất cho vay trong hợp đồng vay tài sản:

Theo thông tin chị cung cấp, tháng 1/2026 chị có cho chị A vay số tiền 180 triệu, có thể thấy giữa chị và chị A có phát sinh hợp đồng vay tiền theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự 2015. Theo đó hợp đồng vay tài sản không bắt buộc các bên phải lập thành hợp đồng bằng văn bản có công chứng chứng thực. Do vậy, nếu chị chứng minh được thỏa thuận cho vay thì vẫn có căn cứ để xác định các bên có hợp đồng vay tiền và phát sinh các quyền lợi, nghĩa vụ của bên vay và bên cho vay theo quy định của pháp luật. 

Đối với vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay tiền tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 có quy định cụ thể như sau:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

…”

Như vậy, căn cứ theo quy định pháp luật đã nêu trên thì lãi suất cho vay giữa cá nhân trong hợp đồng vay tài sản do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm, tương ứng với mức lãi suất không vượt quá 1,67%/tháng.

Đối chiếu với trường hợp của chị, chị có cho vay với lãi suất 2%/tháng đã vượt quá mức lãi suất pháp luật cho phép theo quy định đã nêu trên và phần lãi suất đã vượt quá sẽ không có hiệu lực pháp luật.

Lãi suất cho vay giữa các bên trong trường hợp này đã vi phạm quy định của pháp luật dân sự tuy nhiên chưa bị vi phạm quy định của pháp luật hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). 

Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự thì cá nhân sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi cho vay với mức lãi suất cao gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất mà pháp luật dân sự cho phép (1,67%/tháng) - tức vượt quá từ 8,35%/tháng trở lên và đã thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. 

Thứ hai, giải quyết trong trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán:

Trước hết, do thông tin chị cung cấp chưa rõ ràng do đó chúng tôi chưa xác định được hợp đồng vay tiền giữa chị và chị A là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn hay hợp đồng vay tiền không có kỳ hạn theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành và chị A đã vi phạm về nghĩa vụ trả tiền giữa các bên trong hợp đồng hay chưa. 

Do vậy đối với trường hợp của chị, trước tiên chị cần xác định quyền yêu cầu trả lại tài sản của mình theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật dân sự nếu hợp đồng vay tiền giữa các bên là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn thì chị chỉ được quyền yêu cầu chị A hoàn trả khoản tiền khi đã đến thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng (trừ trường hợp chị và chị A có thỏa thuận khác). Nếu hợp đồng vay giữa chị và chị A là hợp đồng vay không kỳ hạn thì chị có thể yêu cầu chị A trả lại khoản tiền bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo trước cho bên vay một khoảng thời gian hợp lý. 

Nếu trong trường hợp đã đến thời hạn trả nợ (đối với hợp đồng vay có kỳ hạn) hoặc đã hết thời hạn thông báo về vấn đề trả nợ (đối với hợp đồng vay không kỳ  hạn) mà bên vay không hoàn trả khoản tiền thì chị có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết. (Trong quá trình đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết chị có thể đề nghị xem xét về trách nhiệm đồng hoàn trả khoản vay của chồng chị A nếu có căn cứ xác định khoản vay này khoản vay chung của hai vợ chồng hoặc do chị A tự vay nhưng nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình).

Tuy nhiên, như chúng tôi đã nêu trên do hiện tại chưa xác định được lí do cụ thể chị A chưa hoàn trả khoản tiền cũng như chưa xác định được hành vi vi phạm cụ thể của chị A do đó để xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết trường hợp của chị chúng tôi chia thành các trường hợp sau, chị có thể căn cứ để giải quyết đối với trường hợp của mình. Cụ thể:

  • Trường hợp 1: Chị A có hành vi vi phạm pháp luật hình sự:

Nếu đã đến thời hạn trả nợ nhưng chị A không hoàn trả đồng thời có căn cứ xác định chị A vi phạm một trong hành vi quy định tại Điều 174, Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì có căn cứ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 174, Điều 175 bao gồm các hành vi sau: 

  • Cố tình đưa ra thông tin gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; 
  • Có hành vi bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản (hành vi về nhà mẹ đẻ của chị A theo như thông tin chị cung cấp chưa phải là căn cứ để xác định chị A có hành vi bỏ trốn); 
  • Có hành vi đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
  • Chị A đã sử dụng khoản tiền này vào việc kinh doanh bất hợp pháp dẫn đến không còn khả năng trả nợ.

Như vậy, nếu hành vi của chị A thuộc một trong các trường hợp đã nêu trên và chị có căn cứ để chứng minh về việc vi phạm này thì chị có thể làm đơn trình báo và gửi đến cơ quan công an nơi chị A đang cư trú để đề nghị cơ quan công an điều tra xác minh và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị A khi có đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội.

  • Trường hợp 2: Chị A không có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật hình sự:

Nếu trong trường hợp chị A không có hành vi vi phạm một trong các trường hợp đã nêu trên hoặc cơ quan công an có thẩm quyền đã có kết luận xác định hành vi của chị A không đủ để cấu thành tội phạm hình sự thì chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị A. 

Khi đó, để yêu cầu chị A hoàn trả khoản tiền đã vay, chị có thể chuẩn bị đơn khởi kiện dân sự và gửi đến Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) nơi chị A đang cư trú hoặc làm việc để đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện trong trường hợp này bao gồm:

  • Đơn khởi kiện;
  • Hợp đồng vay tiền hoặc các chứng cứ chứng minh khác về thỏa thuận cho vay (nếu có);
  • Giấy tờ xác nhận cư trú của chị A;
  • Giấy tờ tùy thân của chị.

Thứ ba, đối với vấn đề chị A bị mất khả năng thanh toán:

Nếu trong trường hợp vụ việc của chị đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết và có quyết định trong đó ghi nhận nội dung yêu cầu chị A hoàn trả lại khoản tiền đã vay cho chị nhưng chị A vẫn không hoàn trả thì chị có quyền liên hệ với cơ quan thi hành án để đề nghị cơ quan cơ thi hành án cưỡng chế thi hành án và xử lý các tài sản thuộc sở hữu của chị A để thu hồi lại khoản tiền này cho chị. 

Tuy nhiên, thủ tục cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật chỉ được tiến hành khi chị A có tài sản hoặc thu nhập để thi hành án. Nếu trong trường hợp cơ quan thi hành án xác định chị A không có tài sản để thi hành án thì chưa thể cưỡng chế thi hành án và thu hồi lại ngay toàn bộ khoản tiền này cho chị. 

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi