Nội dung câu hỏi: Bố tôi vì tin tưởng nên năm 2008 có cho người quen mượn sổ đỏ để họ vay ngân hàng và thời hạn mượn là 3 năm (sổ đỏ ghi Hộ Gia đình). Thì năm 2011 họ phải trả sổ cho nhà tôi. Đến thời hạn trả nhưng họ khất lần không trả. Đòi mãi cũng không trả đến khi họ bị vỡ nợ không còn khả năng thanh toán thì hoàn toàn không lấy được sổ cho nhà tôi. Đến năm 2019 ngân hàng gửi văn bản định niêm phong nhà tôi thì nhà tôi mới vỡ lẽ ra họ không lấy lại sổ khi hết thời hạn 3 năm vay ngân hàng mà lại kí vay tiếp với ngân hàng. Việc này Bố tôi hoàn toàn không hay biết. Chữ kí trên hồ sơ vay tiếp không phải do Bố mẹ tôi kí (mẹ tôi mất năm 2011). Năm cho vay chị tôi đã lấy chồng, anh trai tôi cũng còn sống, tôi thì chưa lấy chồng. Vậy xin hỏi giờ tôi muốn đòi lại sổ thì phải kiện ai và thủ tục như thế nào? Mẫu đơn kiện ra sao ạ? Nếu tôi muốn thuê luôn luật sư để tiến hành khởi kiện thì như thế nào? Có thể khép người mượn sổ vào tội giả mạo chữ ký, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản không?
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Thứ nhất, về hợp đồng bảo lãnh trong quan hệ vay tài sản:
Theo thông tin chị cung cấp, năm 2008 bố chị có đồng ý cho người khác mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay ngân hàng. Theo quy định của pháp luật dân sự, bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trong quan hệ bảo lãnh, các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Đối chiếu với trường hợp của chị, vào năm 2008 bố chị đã đồng ý sử dụng tài sản là quyền sử dụng đất để đảm bảo cho nghĩa vụ của bên vay tài sản với ngân hàng do đó có căn cứ xác định bố chị là bên nhận bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh này. Trong thời hạn bảo lãnh của hợp đồng bảo lãnh, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng vay thì bên ngân hàng có quyền xem xét xử lý tài sản theo hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.
Theo thông tin chị cung cấp, bố chị đồng ý cho mượn đất để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn 03 năm, hiện nay gia đình chị có nhu cầu lấy lại phần diện tích đất này do đã hết thời hạn theo hợp đồng. Tuy nhiên, hiện tại có phát sinh tranh chấp do bên vay đã tự động gia hạn thời hạn bảo lãnh mà không có chữ ký của bố mẹ chị, đồng thời do bên vay vi phạm hợp đồng nên ngân hàng đang thực hiện xử lý phần diện tích đất này. Để xác định gia đình chị có căn cứ yêu cầu trả lại phần diện tích đất này hay không trước tiên cần làm rõ việc thực hiện bảo lãnh của bố chị với bên vay và việc bên vay và ngân hàng gia hạn hợp đồng bảo lãnh có phù hợp với quy định pháp luật không?
Đối với vấn đề bảo lãnh của bố chị và bên vay: Theo nội dung chị cung cấp, phần diện tích đất này được cấp cho Hộ gia đình, theo quy định của pháp luật đất đai hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.
Do đó, nếu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bố mẹ chị có kê khai các thành viên trong hộ ngoài bố mẹ còn có các con thì tất cả những người được kê khai trong hộ tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận đều có quyền đối với phần diện tích đất này. Từ đó xác định nếu bố chị muốn sử dụng toàn bộ phần diện tích đất này để bảo lãnh khoản vay cho người khác phải được sự đồng ý của tất cả những người có quyền đối với phần đất này. Trong trường hợp khi sử dụng tài sản để bảo lãnh, chỉ có bố chị ký tên và những người có quyền khác đối với mảnh đất không biết về quan hệ bảo lãnh này, không ký tên trên hợp đồng bảo lãnh thì có căn cứ xác định việc bảo lãnh này không phù hợp với quy định của pháp luật liên quan đến quyền của người sử dụng đất. Khi đó những người con có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét lại hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh.
Đối với việc gia hạn hợp đồng bảo lãnh: theo thông tin chị cung cấp, hợp đồng bảo lãnh chỉ có thời hạn 03 năm, khi hết thời hạn bên được bảo lãnh không thực hiện các thủ tục với ngân hàng để trả lại phần diện tích đất này cho gia đình chị mà họ đã tiếp tục gia hạn khoản vay và hợp đồng bảo lãnh bố chị ký vào năm 2008 tiếp tục được gia hạn mặc dù bố và mẹ chị không ký tên trên hợp đồng và chữ ký trên hợp đồng là chữ ký của người khác. Nếu trong trường hợp hợp đồng bố chị đã ký trước đó không có nội dung nào ghi nhận về việc tự động gia hạn hợp đồng bảo lãnh thì khi hợp đồng bảo lãnh hết hạn, nếu muốn tiếp tục gia hạn hợp đồng bảo lãnh thì phải đạt được sự thỏa thuận của tất cả các bên trong hợp đồng này. Nếu khi gia hạn không có chữ ký đồng ý của bố chị, mẹ chị và các con (chữ ký của các con phát sinh trong trường hợp xác định các con có tên trong hộ gia đình tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận hoặc phát sinh do nhận thừa kế trong trường hợp mẹ mất trước thời điểm gia hạn hợp đồng) thì việc ngân hàng và bên vay tự đồng gia hạn hợp đồng này không phù hợp với quy định pháp luật.
Ngoài ra, theo thông tin chị cung cấp, chữ ký trên hợp đồng được gia hạn không phải chữ ký của bố, mẹ chị, do đó việc ngân hàng vẫn tiến hành xử lý tài sản theo nội dung hợp đồng bảo lãnh đã được gia hạn là không phù hợp. Do hợp đồng này được ký để bảo lãnh khoản vay tại ngân hàng và ngân hàng là cơ quan thực hiện thủ tục xác minh thông tin quyền sử dụng đất và thực hiện các thủ tục gia hạn trong hợp đồng vay, do đó nếu các bên không thương lượng giải quyết được vấn đề này, gia đình chị có quyền khởi kiện ngân hàng, hồ sơ khởi kiện được gửi đến Tòa án nhân dân nơi ngân hàng đang có trụ sở để yêu cầu xác định lại hiệu lực của hợp đồng thế chấp và việc gia hạn hợp đồng thế chấp này.
Mẫu đơn khởi kiện chị có thể tham khảo mẫu sau:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
…, ngày … tháng … năm 2022
ĐƠN KHỞI KIỆN
(V/v:………………………………)
Kính gửi: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA – TP. HÀ NỘI
Nguyên đơn :…………………………… Sinh năm : ………..
CCCD số : ………………….. Cấp ngày :…………………………………..
Nơi cấp : ………………………………………………………………………….
HKTT : ………………………………………………………………………….
Chỗ ở hiện tại: ………………………………………………………………………….
Điện thoại : ……………………
Bị đơn : ………………………………………………………………………….
Địa chỉ : …………………………………………………………………………..
Mã số thuế : ……………………………………
Đại diện : ………………………… Chức danh :………………………….
Điện thoại : ……………………
Nội dung khởi kiện:
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau :…………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Rất mong nhận được sự giải quyết của Quý tòa!
|
NGƯỜI KHỞI KIỆN |
Thứ hai, về vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự:
Theo quy định của pháp luật dân sự, quan hệ bảo lãnh trong hợp đồng vay tài sản được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự, hành vi gian dối liên quan đến hoạt động bảo lãnh này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ căn cứ chứng minh hành vi gian dối của một bên nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bên còn lại. Để xác định việc có nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản này được xác định thông qua quá trình điều tra, xác minh của cơ quan công an có thẩm quyền. Đối với nội dung chị cung cấp, luật sư nhận thấy bên được bảo lãnh có dấu hiệu gian dối đối với phía gia đình chị nhưng mục đích của họ có nhằm chiếm đoạt tài sản của gia đình chị hay không vẫn chưa rõ ràng, do đó trường hợp này chưa đủ yếu tố cấu thành hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
Lưu ý: Để xác định chính xác việc gia hạn hợp đồng giữa ngân hàng và bên vay tài sản có phù hợp hay không, cần phải kiểm tra cụ thể hợp đồng giữa các bên.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: