Chia thừa kế tài sản khi có mẹ kế, con riêng của bố

Chia thừa kế tài sản khi có mẹ kế, con riêng của bố

2026-06-17 09:54:07 2

Câu hỏi:

- Khoảng năm 1980 gia đình chồng tôi (gồm bố chồng, mẹ chồng, chị gái chồng, chồng tôi, em gái chồng tôi) được cấp mảnh đất, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ gia đình ông L (tên bố chồng tôi). 

- Năm 1989, mẹ chồng tôi mất. Khi mất bà không để lại di chúc, sau khi bà mất cũng chưa phân chia di sản thừa kế. 

Sau đấy 3 năm bố chồng tôi lấy vợ 2. Vợ 2 có 2 người con riêng. Ông bà có với nhau 1 người con trai chung.

- Năm 1997, mẹ kế chồng tôi có đi làm sổ đỏ, sổ đỏ vẫn mang tên hộ gia đình ông L.

- Nay mảnh đất và nhà trên đất (phần nhà do các con xây dựng cho ông nhưng không có căn cứ để chứng minh và được xây dựng sau khi mẹ chồng tôi mất) được định giá 10 tỷ. Mẹ kế chồng tôi, em trai chồng, 2 người con riêng của mẹ kế chồng tôi đã ký biên bản từ chối có đóng góp vào tài sản trên đất. 

Vậy cho tôi hỏi việc chia thừa kế mảnh đất và tài sản trên đất theo pháp luật là như thế nào ạ?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:


Thứ nhất, về vấn đề xác định quyền sử dụng phần diện tích đất:

Theo thông tin chị cung cấp, năm 1980 gia đình nhà chồng chị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình (do bố chị đứng tên chủ hộ trên Giấy chứng nhận) đối với phần diện tích đất đang sử dụng. Theo quy định tại Khoản 25 Điều 3 Luật đất đai 2024 thì: Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành”.

Theo đó, thời điểm để xác định hộ gia đình có bao nhiêu thành viên có quyền sử dụng đất là thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Việc xác định ai là thành viên của hộ gia đình phải căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm yêu cầu cấp Giấy chứng nhận.

Từ đó, đối chiếu với trường hợp của chị nếu vào thời điểm được nhà nước giao đất và kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất này, gia đình nhà chồng chị có kê khai những người có quan hệ huyết thống, cùng sinh sống và sử dụng phần diện tích đất này bao gồm bố chồng chị, mẹ chồng chị, chị gái chồng, chồng chị và em gái chồng chị thì có căn cứ để xác định những người đã nêu trên là những người đồng sử dụng và có quyền đối với phần diện tích đất này.

Bên cạnh đó, theo thông tin chị cung cấp, năm 1996 người vợ thứ hai của bố chị có thực hiện thủ tục cấp sổ đỏ (sổ đỏ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hai giấy tờ có giá trị pháp lý ngang nhau) đối với phần diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận vào năm 1980. Như chúng tôi đã phân tích, thời điểm để xác định có bao nhiêu thành viên có quyền sử dụng đất là thời điểm được nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất và phụ thuộc vào hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận. Vào năm 1980 khi gia đình chị được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất người vợ thứ hai của bố chồng chị chưa phải là thành viên của gia đình, do vậy chưa đủ căn cứ để xác định người vợ thứ hai là người có quyền của người sử dụng đất đối với phần đất này.

Thứ hai, về vấn đề phân chia thừa kế đối với phần tài sản thuộc sở hữu của mẹ chồng chị:

Theo như nội dung đã phân tích tại phần thứ nhất do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình bố mẹ chồng chị vào năm 1980, tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận mẹ chồng chị có tên trong sổ hộ khẩu của gia đình. Do vậy, có căn cứ để xác định mẹ chồng chị có quyền đối với một phần diện tích đất thuộc sở hữu chung của hộ gia đình. Sau khi bà chết phần diện tích đất thuộc sở hữu của bà sẽ trở thành di sản thừa kế và được phân chia thừa kế. 

Theo thông tin chị cung cấp, mẹ chồng chị chết không để lại di chúc do đó phần di sản thừa kế của bà sẽ được phân chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Theo quy định của pháp luật dân sự thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của mẹ chồng chị bao gồm bố chồng chị, tất cả các con của bà và bố mẹ bà (nếu ông bà còn sống tại thời điểm mẹ chồng chị chết).

Thứ ba, phân chia thừa kế đối với phần tài sản thuộc sở hữu của bố chồng chị:

Đối với phần diện tích đất: Theo như nội dung đã phân tích tại phần thứ nhất thì phần diện tích đất được hình thành vào năm 1980, trước thời điểm bố chị đăng ký kết hôn với người thứ 2 do đó có căn cứ để xác định phần diện tích đất này là tài sản riêng hình thành trước thời kỳ hôn nhân của bố chị với người thứ 2.

Đối với phần căn nhà: Theo thông tin chị cung cấp, căn nhà trên đất được các con xây dựng cho ông trong thời kỳ hôn nhân với người vợ thứ hai (nhưng không có căn cứ để chứng minh về việc các con xây dựng và cho riêng ông) do đó có căn cứ để xác định đây là tài sản chung của hai vợ chồng ông được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. 

Tuy nhiên, theo thông tin chị cung cấp, người vợ thứ hai của bố chị đã có văn bản xác nhận không có công sức đóng góp đối với quá trình tạo lập lên căn nhà này, có thể xác định giữa bố chồng chị và người vợ thứ 2 đã có thỏa thuận về phân chia đối với tài sản trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng. Nếu văn bản này được lập dựa trên tinh thần tự nguyện, đúng với ý chí của người vợ thì có căn cứ để xác định người vợ thứ 2 của bố chị xác nhận đây là tài sản thuộc sở hữu riêng của bố chồng chị trong thời kỳ hôn nhân.

Nếu bố chồng chị chết không để lại di chúc thì phần diện tích đất và căn nhà thuộc sở hữu của bố chồng chị sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015. Điều 651 quy định như sau:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Trong trường hợp này, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố chồng chị bao gồm: người vợ thứ hai, chị gái chồng chị, chồng chị, em gái chồng chị, một người con chung với người vợ thứ hai và bố mẹ của ông (nếu ông bà còn sống tại thời điểm bố chồng chị chết).

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi