Chia tài sản trên đất là căn nhà có căn cứ vào sổ hộ khẩu không?

Chia tài sản trên đất là căn nhà có căn cứ vào sổ hộ khẩu không?

2026-04-18 23:11:52 2

Nội dung yêu cầu tư vấn:  Tháng 12/2015 tôi có xây dựng gia đình. Tháng 5/2016 tôi mới nhập khẩu về nhà chồng, đến tháng 9/2016 tôi sinh cháu nhỏ đồng thời gia đình nhà chồng cũng xây 1 căn nhà 2 tầng với diện tích khoảng 200m2 trị giá 800.000.000đ trong đó tôi có đóng góp 245.000.000 để xây nhà.

Thời điểm về nhà chồng, trong nhà chỉ có 03 người: bố chồng, chồng và tôi. Thời điểm hiện tại: trong nhà có 04 người sinh sống là bố chồng, chồng, tôi và con tôi.Nhưng trong sổ hộ khẩu vẫn có tên của anh trai chồng (thời điểm đó và hiện tại vẫn đang sinh sống tại Hà nội). Bây giờ hai vợ chồng tôi ly hôn tôi có được chia tài sản của căn nhà mới xây năm 2016 không? Mức chia là bao nhiêu?

Luật phân chia tài sản có chia cho anh trai chồng có tên trong sổ hộ khẩu không ạ? Xin văn phòng luật sư giải đáp giúp và theo quy định nào của pháp luật? Xin chân thành cảm ơn!

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin bạn cung cấp, vợ chồng bạn hiện tại đang cùng sống chung với gia đình nhà chồng do đó nếu hai bạn ly hôn thì vấn đề phân chia tài sản sẽ được áp dụng theo quy định tại Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Điều 61 quy định về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình như sau:

“1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Như vậy, với trường hợp này căn nhà được xác định là tài sản đóng góp chung của các thành viên trong gia đình do đó ai có đóng góp công sức vào quá trình tạo lập, duy trì căn nhà thì có quyền yêu cầu phân chia. Việc anh trai chồng bạn có tên trong sổ hộ khẩu chỉ có giá trị xác nhận các bạn có cùng nơi đăng ký thường trú và không đồng nghĩa với việc anh chồng bạn được chia phần giá trị căn nhà khi hai vợ chồng bạn ly hôn.

Nếu anh trai chồng bạn chỉ có tên trong sổ hộ khẩu mà không đóng góp vào quá trình tạo lập, duy trì căn nhà thì anh trai chồng bạn không có quyền yêu cầu phân chia căn nhà. 

Nếu anh chồng bạn có đóng góp công sức trong quá trình tạo lập căn nhà hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất được cấp cho Hộ gia đình và anh chồng bạn có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận thì anh chồng bạn mới có quyền yêu cầu phần chia giá trị phần còn lại của căn nhà sau khi đã phân chia cho hai vợ chồng bạn khi ly hôn. 

Đối với phần tài sản mà bạn đã đóng góp, nếu bạn chứng minh được mình có đóng góp 245.000.000 đồng vào quá trình xây dựng nhà cùng với phía nhà chồng thì bạn có quyền yêu cầu phân chia lại giá trị căn nhà tại thời điểm yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do bạn không cung cấp rõ số tiền đã đóng góp xây nhà là số tiền chung của hai vợ chồng bạn hay là tài sản riêng của bạn do đó chúng tôi chia thành các trường hợp sau:

TRƯỜNG HỢP 1: NẾU ĐÂY LÀ TÀI SẢN CHUNG CỦA HAI VỢ CHỒNG BẠN:

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Nếu số tiền 245.000.000 đồng này là tài sản do vợ, chồng bạn tạo lập, thu nhập từ lao động, sản xuất, kinh doanh… trong thời kỳ hôn nhân hoặc là tài sản được tặng cho, thừa kế chung trong thời kỳ hôn nhân thì đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn thì phần tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi, tài sản chung sẽ được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia bằng giá trị. 

Với trường hợp này, do căn nhà là tài sản không thể chia thành các phần do đó khi ly hôn tài sản này sẽ được xem xét chia theo giá trị. Theo đó, giá trị căn nhà sẽ được Tòa án xác định lại tại thời điểm bạn yêu cầu giải quyết ly hôn.

Cụ thể với trường hợp của bạn: Năm 2016 bạn đóng góp 245.000.000 đồng để xây nhà, căn nhà thời điểm đó trị giá 800.000.000 đồng tuy nhiên đến thời điểm hiện tại khi bạn yêu cầu ly hôn giá trị căn nhà đã có sự thay đổi do đó khi bạn yêu cầu ly hôn, bạn có thể thỏa thuận với phía nhà chồng về vấn đề xác định và phân chia phần vợ chồng bạn đã đóng góp tương ứng với giá trị căn nhà tại thời điểm hiện tại, sau đó phần tài sản đã xác định cho vợ chồng bạn sẽ được phân chia theo nguyên tắc phân chia tài sản chung khi ly hôn. Nếu các bên không tự thỏa thuận được thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, Tòa án sẽ xác định lại giá trị của căn nhà và giải quyết tùy thuộc vào tình hình thực tế của vụ việc.

TRƯỜNG HỢP 2: NẾU ĐÂY LÀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA BẠN:

Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Tài sản riêng của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Nếu đây là tài riêng của bạn do bạn có trước khi đăng ký kết hôn hoặc đây là số tiền bạn được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc do hai bạn thỏa thuận phân chia tài sản chung thành tài sản riêng và bạn không có thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung tại thời điểm đóng góp tiền thì đây được xác định là tài sản riêng của bạn. Theo nguyên tắc phân chia tài sản riêng khi ly hôn thì tài sản riêng sẽ không phân chia. Bạn có thể thỏa thuận với gia đình nhà chồng về việc thanh toán lại số tiền bạn đã đóng góp, nếu không thể thỏa thuận được thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình chồng hoàn trả số tiền bạn đã đóng góp tương ứng với giá trị căn nhà tại thời điểm hiện tại.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi