Căn cứ kháng cáo trong vụ án hình sự phúc thẩm

Căn cứ kháng cáo trong vụ án hình sự phúc thẩm

2025-11-25 09:42:16 186

Tình huống đặt ra: A dùng rìu chém B và C hậu quả:

- B chết ngay tại chỗ; C tỷ lệ thương tích là 60%. Bản án số …./2024/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh …….. tuyên A 20 năm tù cho tội giết người, trách nhiệm dân sự bồi thường cho gia đình bị hại B là 545 triệu; Bị hại C là 114.500.000 đồng.

Tòa án áp dụng căn cứ pháp luật khi tuyên án gồm: Giết nhiều người, có tính chất côn đồ, tái phạm nguy hiểm; Tình tiết giảm nhẹ: Tự nguyên bồi thường, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết khác; Phạm tội chưa đạt

Tài liệu gửi kèm: Kết luận điều tra, cáo trạng, bản án sơ thẩm và một số bút lục trong hồ sơ.

Mời bạn đọc tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Luật Tháng Mười liên quan đến các nội dung kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Bản án số …./2024/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh …….. tuyên phạt bị cáo A 20 năm tù.

1.1. Tình tiết định khung: Giết nhiều người và Có tính chất côn đồ là phù hợp với tình tiết có trong hồ sơ vụ án:

+ Giết nhiều người: 02 người A và B (B không chết, được coi là phạm tội chưa đạt).

+ Nguyên nhân giết 2 người do bản tỉnh côn đồ: Mặc dù 2 bên không có mâu thuẫn, xích mích gì nhưng chạy sang dùng rìu (hung khí nguy hiểm) chém, theo lời khai của bị cáo là muốn “sang la mấy đứa ở đó về”, nhưng nghe thấy B nói “chấp mày luôn” thì lao vào chém A và B - do vậy thể hiện bản tính côn đồ của bị cáo.

1.2. Tình tiết giảm nhe:

+ Tình tiết quy định tại điểm b, s: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là phù hợp với quy định pháp luật, các tình tiết này do bị cáo nhận thức được hành vi nên đã chủ động tạo lập cho mình: Bồi thường cho bị hại B 40 triệu và gia đình bị hại A 250 triệu; Quá trình điều tra, tại các bản ghi lời khai bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; Tại phiên tòa thừa nhận hành vi phạm tội, xin lỗi gia đình bị hại; Được B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tại phiên tòa.

+ Tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS được tòa án coi là tình tiết giảm nhẹ và ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án: Bà ngoại là Mẹ Việt Nam anh hùng; 02 Cậu ruột là liệt sĩ; Ông nội là người có công với cách mạng. Việc ghi nhận cho bị cáo hưởng tình tiết này là chưa khách quan, chưa phù hợp với thực tế bởi lẽ: Hiện nay, quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS chưa được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên trong quá trình xét xử, Tòa án vẫn có thể tham khảo quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã từng hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xác định tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định sẽ gồm:

- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:

- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;

- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;

- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;

- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;

Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.

Như vậy, theo tinh thần của quy định trên, nếu cho bị cáo hưởng tình tiết như bản án nêu là không phù hợp với hướng dẫn trước đây của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chưa thể hiện đúng nguyên tắc xử lý được quy định tại điểm c khoản 1 điều 3 BLHS là “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” không tạo ra sự công bằng cho gia đình các bị hại. Gia đình bị hại cần nêu ý kiến về việc tòa cấp sở thẩm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ không đúng với quy định của pháp luật.

+ Về việc áp dụng tình tiết phạm tội chưa đạt được quy định tại điều 15 và khoản 3 điều 57 BLHS để áp dụng mức hình phạt tù không quá 20 năm cho bị cáo cũng không phù hợp, chưa phản ánh hết được tích chất mức độ đặc biệt nghiêm trọng của sự việc, không thể coi giết 1 người chưa đạt trong vụ án giết 2 người để tổng hợp vụ án là chưa đạt bởi:

- Các điều khoản trên (về phạm tội chưa đạt) chỉ phù hợp với thiệt hại mà bị cáo gây ra cho bị hại B.

- Đối với bị hại B bị A chém chết ngay tại chỗ bởi bản tính côn đồ của mình, do vậy không thể coi là bị cáo phạm tội chưa đạt để quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt được.

Do vậy, gia đình bị hại cần nêu ý kiến tới tòa án cấp phúc thẩm Tòa cấp cao tại Đà Nẵng về việc Tòa cấp sở thẩm áp dụng căn cứ pháp luật chưa phù hợp để xét xử đối với bị cáo A.

1.3. Tình tiết khác:

+ Tại hồ sơ vụ án thể hiện: sau khi gây án xong, bị cáo đã bỏ trốn ngay lập tức. Khi đến nơi ở mới bị cáo liền thay tên đổi họ, đổi năm sinh làm lại giấy tờ nhằm tránh bị phát hiện (BL 124,125). Hành vi đổi họ tên từ; Đổi năm sinh từ 1963 thành 1961; Liên hệ đến chính quyền địa phương nơi bỏ trốn nhằm làm lại giấy tờ với thông tin nhân thân mới.  Theo đó, phải xem các động thái nêu trên là hành vi “xảo quyệt” nhằm trốn tránh trách nhiệm, nên gia đình bị hại cần đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng cần ghi nhận tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 52 BLHS “p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.” đối với bị cáo.

+ Sau khi gây án xong, bị cáo bỏ trốn sống cuộc sống bình thường từ năm 1991-2021, lấy vợ sinh con, cùng vợ tạo lập nhiều tài sản, nuôi 3 con học tập, hiện tại đều có điều kiện du học ở Nhật Bản và Hàn Quốc thể hiện bị cáo là người man rợ, xảo quyệt sau khi bị bắt theo lệnh truy nã thì mới ăn năn hối cải, mới tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Biết mình không thoát được tội nên mới thành khẩn với cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện sự ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục hậu quả nhằm được hưởng các tình tiết giảm nhẹ, để nhận sự khoan hồng của nhà nước. Hành vi của bị cáo đã cướp đi mạng sống của B, bỏ lại cho vợ ông nuôi 8 người con, đứa nhỏ nhất lúc đó được 03 tuổi 21 ngày. Do vậy phía gia đình bị hại cần đề nghị tòa phúc thẩm xem xét cẩn trọng việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tuyên phạt bị cáo mức án phải tương xứng với hành vi, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, đúng với nguyên tắc xử lý được quy định tại điều 3 BLHS, đảm bảo công bằng cho gia đình bị hại và người đã chết.

2. Về trách nhiệm dân sự:

2.1. Đối với bị hại B: Bị cáo bồi thường tổng là 114.500.000 đồng (Trong đó 40 triệu đã bồi thường trước đó, còn 74.500.000 đồng tổn thất tinh thần chưa bồi thường)

Tại hồ sơ vụ án, chưa thấy bị hại liệt kê các khoản phải bồi thường khác theo quy định tại điều 590 Bộ luật dân sự gồm:

-  Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

-  Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

Ngoài mức khắc phục tự nguyện 40 triệu, mức bồi thường tổn thất về tinh thần. Phía gia đình bị hại B cần yêu cầu bị cáo bồi thường thêm: Chi phí cứu chữa (viện phí thời điểm đó); Thu nhập thực tế của bị hại bị giảm sút; Chi phí chăm sóc, thu nhập của người chăm sóc ….

2.2. Đối với bị hại A: Ngoài tiền mai táng phí, tổn thất về tinh thần đã được ghi nhận bồi thường; Khoản tiền cấp dưỡng được tòa chấp nhận là 750.000 đồng/cháu/tháng được cho không phù hợp, bởi theo điều 585 Bộ luật dân sự thì:

- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời: Mặc dù thời điểm gây án từ năm 1991, mức sống lúc đó có thể thấp hơn hiện tại nhưng việc bồi thường thực tế tại thời điểm đó không được thực hiện, không kịp thời cấp dưỡng cho các con của bị hại để tiếp tục ăn học ở môi trường tốt hơn (nếu bố còn sống). Khi việc cấp dưỡng không được đúng thời điểm thì không giải quyết cốt lõi của vấn đề cấp dưỡng.

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế: Tòa án nêu việc cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của bị cáo, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, mức sống tối thiểu tại địa phương tại thời điểm gây án và chênh lệch giá hiện nay để chấp nhận mức cấp dưỡng là 750.000 đồng, tuy nhiên tòa chưa xem xét đến tính chất kịp thời của khoản cấp dưỡng, chi phí cơ hội mà con của bị hại đáng ra được hưởng nếu hành vi phạm tội không xảy ra hoặc việc cấp dưỡng được thực hiện kịp thời vào thời điểm đó; Ngoài ra, khả năng thực tế của bị cáo theo hồ sơ vụ án thì sau khi trốn ra Bà Rịa - Vũng Tàu bị cáo tạo lập được nhiều bất động sản, kinh tế gia đình có điều kiện khi cho cả 3 con đi du học tại các nước phát triển, do vậy xét tổng thể khả năng thực tế của bị cáo, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, mức sống tối thiểu và chênh lệch giá, gia đình bị hại A cần đề nghị tòa cấp phúc thẩm Tòa cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận mức cấp dưỡng bằng mức lương cơ sở ở thời điểm hiện tại./.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi