Nội dung yêu cầu tư vấn: Tôi có vay trên những cái app cho vay online mỗi app dao động từ 1 triệu đến 8 triệu nhưng số tiền thực nhận chỉ 75% số tiền vay với thời hạn là 7 ngày. Hiện giờ tôi không thể thanh toán được và bên cho vay đe dọa và gọi điện thoại cho tất cả mọi người trong danh bạ của tôi để đòi chửi bới lăng mạ kèm theo ghép hình ảnh đăng mạng xã hội. Xin hỏi giờ tôi phải làm sao vì tất cả khoản vay gia đình tôi đều không biết, hiện tại tôi rất sợ. Nhưng lại không đủ tiền để trả vì tổng nợ gần 200 triệu và trễ hạn là lãi phạt tăng cao. Xin chỉ tôi cách giải quyết!
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin chị cung cấp, hiện tại chị đang phát sinh quan hệ vay tài sản với các app ứng dụng online. Tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”
Tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:
“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
…”
Căn cứ theo quy định pháp luật nêu trên, chị có trách nhiệm trả đủ khoản tiền các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Việc hoàn trả này bao gồm khoản tiền gốc, tiền lãi và các khoản phạt vi phạm mà các bên đã thỏa thuận.
Các app cho vay online thông thường được xác định là các tổ chức tín dụng hoặc công ty tài chính và được điều chỉnh theo quy định của luật các tổ chức tín dụng. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì lãi suất cho vay trong trường hợp của chị do các bên tự thỏa thuận (không có quy định về mức lãi suất tối đa mà các bên được thỏa thuận). Do đó, khi chị đồng ý thực hiện theo các bước vay tiền của các app trong đó có ghi nhận về vấn đề lãi suất thì có căn cứ để xác định chị đã đồng ý với mức lãi suất đó và chị có trách nhiệm thanh toán đúng nội dung đã giao kết.
Trường hợp chị không thực hiện thanh toán đúng hạn thì có căn cứ để xác định chị đang vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Khi đó, bên cho vay có quyền yêu cầu chị hoàn trả khoản vay hoặc khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Với trường hợp của chị, nếu khi thực hiện giao kết hợp đồng vay tài sản, chị không đưa ra các thông tin gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; sau khi vay tài sản chị cũng không có hành vi bỏ trốn hoặc có tài sản nhưng cố tình không trả nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc chị không sử dụng các khoản vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì chưa đủ căn cứ để xác định chị có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, từ đó chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự với chị về việc chị không thanh toán được khoản vay đúng hạn này.
Đối với vấn đề bên cho vay tài sản có hành vi đe dọa, gọi điện cho những người trong danh bạ của chị… thì hành vi này được xác định là không phù hợp. Bởi, theo quy định tại tại khoản 7 Điều 1 Thông tư 18/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì: “Biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ phù hợp với đặc thù của khách hàng, quy định của pháp luật và không bao gồm biện pháp đe dọa đối với khách hàng, trong đó số lần nhắc nợ tối đa 05 (năm) lần/01 (một) ngày, hình thức nhắc nợ, thời gian nhắc nợ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay tiêu dùng nhưng phải trong khoảng thời gian từ 7 (bảy) giờ đến 21 (hai mươi mốt) giờ; không nhắc nợ, đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ cho công ty tài chính, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; bảo mật thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật;”.
Trong trường hợp bên cho vay có hành vi liên tục, hoặc thường xuyên gọi vào thời nghỉ ngơi ví dụ như thời gian vào ban đêm…, trong nội dung cuộc gọi có thể hiện rõ các thông tin đe dọa, chửi bới hoặc việc đăng hình ảnh kèm các thông tin không đúng nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm… thì hành vi này có thể bị xử lý theo quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Để xử lý hành vi trên, chị có thể trình báo đến cơ quan công an nơi mình đang cư trú để đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết. Tuy nhiên, chị cũng cần lưu ý việc xử phạt chỉ được áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền xác định được cụ thể người thực hiện các hành vi vi phạm nêu trên. Bên cạnh đó, việc các đối tượng nêu trên bị xử phạt vi phạm hành chính (nếu xác định được cụ thể các đối tượng) không đồng nghĩa với việc chị không phải thực hiện các nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: