Buộc người lao động ký cam kết bồi thường khi nghỉ việc có hợp pháp không?

Buộc người lao động ký cam kết bồi thường khi nghỉ việc có hợp pháp không?

2026-04-05 21:49:41 2

Nội dung chị yêu cầu tư vấn: Mong được giải đáp: em có kí hợp đồng thử việc 2 tháng và 1 bản cam kết làm việc 2 năm nếu nghỉ trước 2 năm sẽ phải bồi thường 50 triệu. Vì thấy công việc không phù hợp em muốn xin nghỉ khi vẫn trong thời gian thử việc. Vậy e có phải bồi thường không ạ và nếu đã kí hợp đồng lao động chính thức khi nghỉ trước thời gian 2 năm e có phải bồi thường không ạ. Công ty bắt kí cam kết như vậy có vi phạm pháp luật không ạ!

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin chị cung cấp, chị ký hợp đồng thử việc 02 tháng và ký bản cam kết làm việc 02 năm nếu nghỉ trước 02 năm phải bồi thường cho công ty 50 triệu đồng. Tuy nhiên, do công việc không phù hợp nên chị muốn xin nghỉ việc trong thời gian thử việc, tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật lao động 2019 quy định: “2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.”.

Như vậy, theo quy định nêu trên nếu trong thời gian chị đang thử việc mà công việc không phù hợp thì chị có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc với công ty mà không cần phải báo trước và không phải bồi thường cho công ty.

Trường hợp chị đã ký hợp đồng lao động chính thức với công ty mà muốn nghỉ việc thì chị có thể thỏa thuận với công ty để chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. 

Điều 35 Bộ luật lao động 2019 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

“Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.”.

Để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì chị có trách nhiệm báo cho công ty biết trước ít nhất: 30 ngày nếu hai bên ký hợp đồng lao động xác định thời hạn, 45 ngày nếu hai bên ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. 

Nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật lao động 2019 thì khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chị không cần phải thực hiện nghĩa vụ báo trước.

Khi chị đảm bảo điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định nêu trên thì được xác định là chị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng luật và chị không có trách nhiệm phải bồi thường cho công ty.

Cam kết thời gian phải làm việc 02 năm và nếu vi phạm chị phải có trách nhiệm bồi thường 50 triệu đồng là không phù hợp quy định pháp luật lao động.

Ngoài ra, nếu trường hợp chị chấm dứt không đảm bảo các điều kiện theo quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động 2019 (nghỉ ngang hoặc báo không đủ thời gian theo quy định) thì xác định chị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Khi chị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật chị có trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động 2019 như sau:

“Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”.

Như vậy, nếu chị chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định pháp luật thì chị không có trách nhiệm phải bồi thường cho công ty, trường hợp chị chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì chị chỉ có trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động 2019.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi