Bị xúc phạm danh dự dù không vay tiền, phải làm sao?

Bị xúc phạm danh dự dù không vay tiền, phải làm sao?

2026-04-11 14:46:40 4

Câu hỏi: Hai năm trước, em có đứng ra nhận giùm khoản nợ 200 triệu đồng của chồng em với một người bạn chung của hai vợ chồng. Em đã tự mình trả bớt cho chủ nợ 30 triệu, số còn lại do làm ăn khó khăn nên em chưa có khả năng trả. Gần đây, chồng em có xin với chủ nợ là sẽ trả 5 triệu mỗi tháng, tháng nào làm được thì trả nhiều hơn, nhưng chủ nợ không đồng ý mà yêu cầu phải trả 10 triệu.

Chủ nợ có nhắn tin cho em, yêu cầu em trả thay chồng mỗi tháng 10 triệu. Sau một lúc nói chuyện, em đã đồng ý và hẹn sẽ trao đổi lại với chồng rồi liên hệ sau. Tuy nhiên, việc thu nợ sau đó chủ nợ lại giao cho một nhân viên tên Lan và yêu cầu em liên hệ trực tiếp với cô ấy, em cũng đồng ý.

Ngày hôm sau, cô Lan nhắn tin cho chồng em, nói rằng “khổ thiếu nợ mà thấy đi nhậu và livestream Facebook”. Chồng em không hài lòng với thái độ đó nên có lời qua tiếng lại. Sau đó, hình ảnh cá nhân, số điện thoại, tên tuổi và nhiều thông tin của em bị công khai trên Facebook, gắn thẻ nhiều người với nội dung nói em thiếu nợ để bêu rếu. Họ tiếp tục viết nhiều bài, đăng cả tin nhắn của chồng em với người khác nhưng lại nêu tên em, kèm hình ảnh của em, nói rằng em thiếu nợ nhiều người trong giới nghệ sĩ rồi chửi bới để ép trả nợ. Em đã yêu cầu họ đưa bằng chứng, chỉ cần em thiếu một xu thì em sẽ công khai livestream quỳ lạy, nhưng thực tế em không thiếu ai cả. Họ vẫn tiếp tục viết khoảng 10 bài, bài nào cũng dùng hình ảnh cá nhân của em, gây xáo trộn cuộc sống. Khi em tra cứu thì chủ nợ đổ cho nhân viên, nhân viên lại nói là chủ nợ làm. Em có ghi âm cả hai cuộc nói chuyện. Đặc biệt, tài khoản Facebook tên “Lisa Trần” trước đó chính chủ nợ đã dùng để gọi điện và nhắn tin cho em. Vì vậy, em muốn kiện hành vi lăng mạ, xúc phạm danh dự, uy tín cá nhân. Em đã yêu cầu họ đăng bài xin lỗi nhưng họ không thực hiện. Họ viết nhiều thông tin sai sự thật, cho rằng em thiếu nợ nhiều người để bêu xấu.

Luật sư tư vấn: 

  1. Hành vi đăng Facebook của bên kia sẽ bị xử lý thế nào và em phải làm gì, vì em là vợ chứ không vay tiền.
  2. Khoản tiền vay thì ai sẽ phải thanh toán?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:


1. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín người khác trên mạng xã hội

Một trong các quyền con người, quyền công dân được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo hộ đó là quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm. Điều này được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật, cụ thể tại Điều 20 Hiến pháp 2013 có ghi: 

“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

Bên cạnh đó, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng được ghi nhận tại Điều 34 BLDS 2015.

“Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.”

Như vậy, mọi cá nhân đều được pháp luật bảo vệ về danh dự, nhân phẩm. Người nào thực hiện hành vi làm nhục người khác có thể phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình và tùy theo mức độ mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm tương ứng. 

Đối với trường hợp của chị, việc người khác đăng hình ảnh, thông tin cá nhân chị và gia đình lên mạng xã hội đi kèm với những lời nói bịa đặt, vu khống là hành vi xâm phạm đến danh dự, uy tín. Đây là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến các quyền con người, quyền công dân được pháp luật bảo vệ. Để có cơ sở yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chị cần thu thập, chuẩn bị đầy đủ các bằng chứng, chứng cứ về hành vi vi phạm và một số căn cứ để xác minh đối tượng thực hiện hành vi (ví dụ: chủ nợ hoặc nhân viên hoặc cả hai người) xúc phạm danh dự nhân phẩm thông qua việc đăng tải những thông tin không đúng sự thật lên mạng xã hội facebook. 

Về chế tài xử phạt đối với hành vi đăng tải những thông tin không đúng thật nhằm xúc phạm, hạ thấp danh dự, uy tín người khác có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo điểm a Khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020 NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, thì hành vi của người sử dụng tài khoản facebook đăng tải các nội dung nêu trên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng kèm theo biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gỡ bỏ, cải chính, xin lỗi, bồi thường thiệt hại (nếu có) bởi hành vi đăng tải thông tin không đúng sự thật trên mạng xã hội.

“Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;...”

Trường hợp hành vi đăng tải nêu trên ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và phát sinh thiệt hại thì theo quy định tại khoản 1 điều 584 Bộ luật dân sự 2015 chị có quyền yêu cầu người thực hiện hành vi hoặc khởi kiện ra Tòa án yêu cầu người này bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xúc phạm theo Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 cụ thể như sau:

“Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tiền bồi thường không quá mười lần mức lương cơ sở (hiện tại lương cơ sở là 1.490.000 đồng). Bên cạnh đó, căn cứ theo khoản 5 Điều 34 BLDS 2015 thì chị còn có quyền yêu cầu người xúc phạm chị đưa ra thông tin phải xin lỗi và cải chính công khai.

Ngoài ra, chị cũng lưu ý nếu có hành vi cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm và gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại điều 155 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. …”

Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự có thể thông qua bằng lời nói như thóa mạ, chửi bới một cách tục tĩu, loan truyền các thông tin không đúng sự thật … nhằm vào nhân cách, danh dự với mục đích là hạ thấp nhân cách, danh dự của người khác, khiến họ cảm thấy xấu hổ, nhục nhã, tự ti trước gia đình, đồng nghiệp, bạn bè; gây rối loạn tâm thần, hành vi như mắc bệnh trầm cảm, các bệnh khác liên quan đến tâm lý theo kết luận của cơ sở y tế có thẩm quyền hoặc làm nạn nhân tự sát.

Để xử lý, ngăn chặn triệt để các hành vi nêu trên chị cần làm đơn trình báo đến cơ quan công an (cấp quận/ huyện) nơi xảy ra hành vi kèm theo chứng cứ, tài liệu mà chị đang có (ví dụ như: các bài viết, hình ảnh, file ghi âm, ghi hình, tin nhắn hội thoại, tài liệu khác thể hiện hành vi cố tình xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm …) để phía cơ quan công an có căn cứ xác minh và xử lý theo quy định. 

Chị có thể tham khảo mẫu đơn trình báo như sau:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

 

ĐƠN TRÌNH BÁO

Kính gửi: Công an  ……………………………………………………………

Tôi tên là: …………………………………SĐT………………………………

CMND/CCCD số: …………………………………………………………….

Địa chỉ thường trú: ……………………………………………………………

Địa chỉ liên lạc: …………………………………………………………….….

Tôi làm đơn này xin trình báo với Quý cơ quan việc như sau:

…………………………………………………………………… (Miêu tả chi tiết hành vi vi phạm, các mốc thời gian liên quan đến vi phạm, tên, địa chỉ người vi phạm (nếu có))

Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, đồng thời ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, nay tôi đề nghị Quý cơ quan xem xét các vấn đề sau đây:

1: ………………………………………………………………………………

2: ………………………………………………………………………………

(Ví dụ: - Đề nghị xem xét hành vi vi phạm pháp luật của…

- Đề nghị xác minh người thực hiện hành vi vi phạm…)

Xin chân thành cảm ơn!

Tài liệu kèm theo:

……, ngày … tháng … năm……

Người làm đơn

 

Trong trường hợp chị không có mặt tại Việt Nam thì có thể trình báo theo cách thức sau:

- Chuyển phát nhanh đơn trình báo kèm chứng cứ tới cơ quan có thẩm quyền.

- Ủy quyền cho người khác nộp đơn thay, hiện nay pháp luật chưa có quy định về việc ủy quyền trình báo sự việc, người trình báo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với nội dung của mình, nên chị vẫn cần đứng tên trên đơn trình báo, cũng như phối hợp với cơ quan chức năng để giải quyết vụ việc. Việc ủy quyền nộp đơn phải được công chứng/chứng thực, công dân có thể tới cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước ngoài để thực hiện việc lập văn bản ủy quyền này.

- Theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc tiếp nhận và không được từ chối tiếp nhận bất kì trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nên về nguyên tắc chị có thể trình báo sự việc của mình thông qua các kênh liên lạc của cơ quan có thẩm quyền như: Điện thoại, email, mạng xã hội của cơ quan…. Tuy nhiên, thực tế cũng có sự hạn chế nhất định do hạ tầng kỹ thuật của các cơ quan có thẩm quyền, nên việc tiếp nhận tin báo qua các kênh này sẽ không hiệu quả.

2. Xác định nghĩa vụ trả nợ theo quy định của pháp luật.

Như thông tin chị nêu, khoản tiền vay 200 triệu đồng là của chồng chị với một người bạn cùng vay và được xác định là nghĩa vụ chung về tài sản mà hai bên đều có trách nhiệm ngang nhau trong việc trả nợ, một bên là chồng chị, một bên là người bạn của hai vợ chồng. 

- Trong trường hợp của chị nêu, chị đứng ra nhận trả nợ hộ – hoặc đứng tên vay hộ tiền (mặc dù chị không phải là người đứng ra vay tiền nhưng nếu chị là người đứng ra nhận trả nợ thay mà phía cho vay đồng ý) thì trước hết, chị là người có nghĩa vụ phải trợ nợ cho bên cho vay, bên cho vay có quyền yêu cầu chị phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho họ. Sau đó, chị có quyền yêu cầu chồng chị và người bạn kia hoàn trả lại đầy đủ số tiền vay lại cho chị.

Theo quy định tại các điều 27, 30, 37 Luật hôn nhân và gia đình quy định quy định trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong khoản nợ chung như sau:

“Điều 27. Trách nhiệm liên đới của vợ, chồng

1. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

2. Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này.”

“Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình …”

“Điều 37. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

2. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;...”

Theo chị thông tin là khoản tiền vay được chị đứng ra nhận trả nợ cho chồng chị và một người bạn nên có cơ sở xác định rằng khoản tiền vay này không nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình chị. Do đó, đối với phần nợ của chồng chị thì chị không có trách nhiệm liên đới đối với khoản vay này mà khoản vay này sẽ do chồng chị và người bạn cùng trả nợ. Tuy nhiên chị có nghĩa vụ trả cho bên cho vay trước, sau đó yêu cầu chồng và bạn của chồng hoàn trả lại đầy đủ số tiền vay.

- Trường hợp khoản vay do chồng chị và bạn chồng tự đứng ra vay và chị không nhận trả nợ thay hoặc phía cho vay không đồng ý cho chị trả nợ thay thì nghĩa vụ trả nợ thuộc về chồng và bạn chồng. Nếu phần của chồng chị vay nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì chị, chồng chị cùng liên đới trả nợ và ngược lại.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi