Khoảng Tết vừa rồi tôi quen một người qua Facebook khi mua hàng. Sau vài ngày trò chuyện, họ rủ tôi góp vốn làm ăn, nói cần thêm tiền nhập hàng lớn. Tôi đã chuyển cho họ 100 triệu rồi thêm gần 50 triệu nữa. Hàng về nhưng họ trì hoãn không làm, sau đó nhiều lần mượn thêm hơn 100 triệu cho việc riêng, hứa trả trong vài ngày nhưng không thực hiện. Khi tôi đòi tiền, họ liên tục khất nợ, lấy lý do chưa có, rồi chặn liên lạc trên Facebook, Zalo và né tránh cuộc gọi. Tổng số tiền tôi đã đưa hơn 250 triệu, có đầy đủ bill chuyển khoản. Hiện tôi cho rằng người đó cố tình không trả và có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin anh cung cấp, anh quen một cá nhân qua mạng xã hội, có chuyển tiền cho họ mục đích góp vốn làm ăn chung và cho vay. Tuy nhiên sau khi chuyển tiền, họ thường xuyên phản hồi các thông tin gây nhiễu để không thanh toán lại cho anh. Hành vi này nhận thấy có dấu hiệu nhằm chiếm đoạt số tiền anh đã chuyển. Để có căn cứ đòi tiền, trình báo cơ quan chức năng anh cần thiết thu nhập những thông tin sau: Trao đổi thêm với người kia để làm rõ nội dung hợp tác, vay mượn yêu cầu xác định rõ thời gian trả tiền, trường hợp không thể thực hiện việc trên thì cần thiết thu thập các thông tin của họ như: Địa chỉ thường trú, liên lạc; căn cứ chứng minh tồn tại khoản tiền góp vốn hợp tác, cho vay.
1. Về quan hệ dân sự:
Trường hợp có đầy đủ thông tin về hoạt động hợp tác góp vốn, vay tiền, thời hạn trả nợ mà đã quá thời hạn cam kết người hợp tác, người vay cố tình không trả theo thông báo của anh thì có căn cứ xác định quyền và lợi ích hợp pháp đang bị xâm phạm do hành vi chậm trả nợ của người kia. Anh có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
“Điều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác. …”
Việc khởi kiện được tiến hành tại nơi người kia có địa chỉ thường trú/ làm việc theo quy định tại điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;...”
Hồ sơ khởi kiện bao gồm:
- Đơn khởi kiện (theo mẫu);
- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp (ví dụ: Giấy vay nợ, hợp đồng hợp tác; các đoạn tin nhắn, hội thoại mà có căn cứ xác minh đó là người vay, hợp tác; lệnh chuyển tiền …);
- Giấy tờ tùy thân, thông tin liên lạc (có chứng thực hoặc công chứng).
Căn cứ khoản 5 điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
“Điều 70. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
Đương sự có quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Khi tham gia tố tụng, đương sự có quyền, nghĩa vụ sau đây:
…
5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
6. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình. ....”
Như vậy, ở trường hợp có đủ các căn cứ như nêu trên, anh có thể làm đơn khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi người kia cư trú/ làm việc, kèm theo đơn có tài liệu chứng minh yêu cầu khởi kiện như giấy vay tiền, lệnh chuyển tiền; các tin nhắn, ghi âm cuộc thoại...
2. Dấu hiệu hình sự:
Trường hợp không có đầy đủ các thông tin nêu trên và người hợp tác, vay nợ cố tình trốn tránh việc trả nợ thông qua các thủ đoạn gian dối.
Giả sử người kia có hành gian dối ngay khi tiếp cận với anh như đưa ra các thông tin không đúng sự thật làm anh tin và thực hiện theo, nhằm chiếm đoạt tài sản sau khi anh chuyển tiền. Hành vi gian dối được xem là điều kiện tiên quyết để thực hiện hành vi chiếm đoạt, việc chiếm đoạt chính là kết quả, mục đích cuối cùng của hành vi gian dối.
Khi thỏa mãn điều kiện nêu trên có dấu hiệu của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 như sau:
“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
...
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Do cũng chưa có đầy đủ về quá trình thực hiện, hành vi, lời nói của người kia khi đề nghị hợp tác kinh doanh và vay tiền, chúng tôi xin đưa ra các yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản để anh có thể nhận định rõ hơn về tội phạm này.
Thứ nhất, chủ thể thực hiện tội phạm: Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Do đó, nếu người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh phải trên 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Thứ hai, khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.
Thứ ba, mặt khách quan của tội phạm: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của một người bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin tưởng để giao tài sản cho người phạm tội. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể mà thủ đoạn gian dối đó có thể là yếu tố cấu thành hành vi phạm tội khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.
Thứ tư, hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt.
Thứ năm, mặt chủ quan của tội phạm. Người phạm tội cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
3. Về trình tự, thủ tục trình báo, tố cáo hành vi phạm tội của đối tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản tới cơ quan công an có thẩm quyền
Đối với trường hợp này anh cần trình báo với cơ quan công an có thẩm quyền để tiến hành điều tra và có thể khởi tố vụ án hình sự. Theo đó, Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định “Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố” quy định:
“1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
...
3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
...
4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”
Ngoài ra, khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về thẩm quyền điều tra xác định như sau:
“Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.”
Như vậy, từ các căn cứ nêu trên xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác của chị và tiến hành điều tra vụ án nêu trên là cơ quan công an nhân dân cấp huyện nơi hành vi phạm tội diễn ra. Để được cơ quan điều tra tiếp nhận và giải quyết, anh cần làm đơn tố giác tội phạm (trong trường hợp biết rõ người lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình) hoặc đơn trình báo sự việc (trong trường hợp chưa xác định được đối tượng lừa đảo) gửi lên cơ quan công an nhân dân cấp huyện nơi đối tượng lừa đảo thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền. Tuy nhiên trường này, anh tiến hành trình báo trước đến cơ quan công an nơi anh cư trú để làm cơ sở họ tiếp nhận và giải quyết theo quy định.
Khi đến trình báo, anh cần mang tất cả các chứng cứ đang có như thỏa thuận, hợp đồng, tin nhắn, file ghi âm hội thoại, lệnh chuyển tiền … liên quan đến yêu cầu của để hỗ trợ cho công tác xác minh, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền được nhanh chóng.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: