Nội dung chị yêu cầu tư vấn: Đồng nghiệp cùng cơ quan có vay tôi tiền. Tính tới nay số tiền còn lại là hơn 60triệu. Thời gian gần đây, đồng nghiệp đó thường xuyên quan tâm và giữa chúng tôi có nhiều đoạn hội thoại và tin nhắn tình cảm. Hiện tại vợ người đó đã biết về mối quan hệ của chúng tôi. Ngay sau đó tôi đề cập chuyện tiền nợ với chị gái người đó. Chị ta đứng ra chịu trách nhiệm nhắc người đó trả tiền tôi. Hai bên thoả thuận nếu ko ai làm phiền ai thì mọi chuyện sẽ đi vào quên lãng. Nhưng tiền nợ ng đó vẫn phải trả tôi. Nhưng sau 2 tháng nhắn đòi liên tục mà bên đó ko giải quyết. Vợ ng đó nhắn tin và gọi điện uy hiếp sẽ gửi những đoạn ghi âm cho chồng tôi. Giờ tôi muốn nhờ tới pháp luật can thiệp. Số tiền ko lớn. Nhưng đã thoả thuận rồi mà tôi vẫn bị uy hiếp . Bị lừa cả về tình cảm và tiền bạc. Còn bị uy hiếp về tình thần. Nên tôi cần nhờ tới tư vấn của các vị. Xin được giúp đỡ. Xin cảm ơn!
Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

Theo thông tin chị cung cấp thì chị có cho đồng nghiệp vay tiền, số tiền cho vay tính đến thời điểm hiện tại hơn 60 triệu, sau nhiều lần chị yêu cầu tuy nhiên người vay tiền vẫn không thực hiện trách nhiệm chi trả. Bên cạnh đó, vợ của người vay còn có hành vi nhắn tin, gọi điện mang tính chất uy hiếp chị và gia đình.
Đối với khoản tiền vay, tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”.
Như vậy, đối với trường hợp của chị thì bên vay tiền phải có trách nhiệm trả tiền đúng thời hạn như các bên đã thỏa thuận. Trường hợp hai bên không có thỏa thuận về thời hạn chi trả thì chị có quyền yêu cầu bên vay trả tiền bất cứ lúc nào nhưng chị phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý.
Trường hợp, đến hạn chi trả tiền mà người vay không thực hiện nghĩa vụ chi trả được xác định là vi phạm về thời hạn trả. Trường hợp này, nếu chị và bên vay không thỏa thuận được thì chị có quyền khởi kiện bên vay tại Tòa án nhân dân cấp quận (huyện) để yêu cầu giải quyết.
Nếu bên vay tiền cố tình trốn tránh, có điều kiện trả nhưng vẫn cố tình không thực hiện trách nhiệm chi trả cho chị thì bên vay tiền có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sụng năm 2017 như sau:
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
…”.
Như vậy, nếu bên vay có điều kiện nhưng cố tình trốn tránh không trả tiền vay cho chị thì chị có thể trình báo đến cơ quan công an để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật. Riêng đối với các hành vi của người vợ như: nhắn tin, gọi điện mang tính chất uy hiếp tinh thần chị và gia đình thì các hành vi này đều được xác định là các hành vi vi phạm quy định pháp luật. Chị có quyền trình báo đồng thời các hành vi của người vợ đến cơ quan công an, tùy thuộc vào các nội dung uy hiếp, đe dọa, mục đích của việc đe dọa, hậu quả (nếu có) để xử lý theo đúng quy định pháp luật.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: