Bắt giữ người khác vì nghi ngờ trộm cắp tài sản: Hệ quả pháp lý?

Bắt giữ người khác vì nghi ngờ trộm cắp tài sản: Hệ quả pháp lý?

2026-02-24 09:43:47 2

Nhà anh bạn chồng e nghi ngờ bị mất trộm, có camera quay lại người có ý định ăn trộm. Hôm sau có gặp ngoài đường nhìn giống 2 người ăn trộm trong camera. Có bắt họ đưa về nhà xem camera và đưa lên trình báo công an phường. Nhưng không phải người đó ăn trộm. Giờ họ kiện ra công an và không may hôm đó chồng em đi cùng theo và cũng bị bắt tạm giam vì tội bắt giữ người trái phép. Cho e hỏi trường hợp chồng e vô tình đi cùng và cũng không phải cố ý bắt giữ người thì tội danh như thế nào? Hiện tại tạm giam được gần 1 tháng, gia đình em làm đơn xin tại ngoại vì có con nhỏ, thứ 2 cũng chưa có tiền án tiền sự gì cả. Nhưng bên cơ quan công an không cho gặp, xin tại ngoại cũng không được? Giờ theo luật sư em nên làm thế nào để xin cho chồng em tại ngoại và mức án ảnh phải nhận như thế nào ạ?

Cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Luật Tháng Mười, mời bạn tham khảo nội dung tư vấn dưới đây của Chúng tôi:

1. Về tội danh:

Chồng của chị hiện đang bị tạm giam do có liên quan đến vụ án bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Tội này được quy định tại điều 157 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 như sau:  

“Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

đ) Đối với 02 người trở lên;

…”

Hành vi bắt, giữ người trái pháp luật được hiểu là hành vi của một người, hoặc một nhóm người ngăn cản, tước đoạt sự tự do, dịch chuyển thân thể của người khác trái với quy định của pháp luật (trừ trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang có lệnh truy nã). Pháp luật không có quy định là hành vi bắt, giữ người trái pháp luật trong thời gian bao lâu thì phạm tội, chỉ cần người phạm tội có hành vi bắt, giữ người trái pháp luật là đã cấu thành tội này. Trường hợp như chị nêu hành vi bắt, giữ 2 người đưa về nhà xem camera và đưa lên công an (Họ không phạm tội quả tang hay đang bị truy nã) thì có cơ sở xác định có dấu hiệu phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật.

2. Về hình phạt:

Bạn của chồng chị và chồng chị đã có hành vi bắt giữ 2 người, nếu theo quy định tại điều 157 nêu trên thì hình phạt quy định là từ 02-07 năm tù. Như chị nêu có thể chồng chị giúp anh bạn bắt đưa 2 người nghi ngờ ăn trộm kia về nhà, căn cứ điều 17 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 thì chồng chị phạm tội có thể với vai trò đồng phạm (có căn cứ xác định chồng chị giúp sức hoặc thực hành việc bắt, giữ người)

“Điều 17. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3. Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4. Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”

Trường hợp hành vi chồng chị thỏa mãn yếu tố: phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể hoặc có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự thì được xem xét mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng (dưới 2 năm).

“Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.”

3. Về vấn đề tại ngoại:

Hiện nay chồng của chị đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam, trường hợp muốn tại ngoại có thể làm đơn xin bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm để thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam được quy định tại điều 121, 122 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

 “Điều 121. Bảo lĩnh

1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.

2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.

Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.

3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;

b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;

c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.

Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.

4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.

6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật. “

“Điều 122. Đặt tiền để bảo đảm

1. Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm. …”

Trường hợp của chồng chị áp dụng hình thức bảo lĩnh sẽ phù hợp, về điều kiện để áp dụng bảo lĩnh phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của của bị can. Trong thực tế, biện pháp này thường được áp dụng đối với bị can có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, thái độ thành khẩn khai báo. Gia đình chị cần cử 02 người thân thích là người đủ 18 tuổi trở lên, có nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập. Bị can phải làm giấy cam đoan về việc có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Các văn bản này gửi cho cơ quan điều tra để xem xét, giải quyết.

Lưu ý:

Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.

Quý khách hàng vui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com 

Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!

Bình luận:

Quý Khách hàng có nhu cầu tư vấn, xin vui lòng để lại thông tin dưới đây cho chúng tôi

Đăng ký email để nhanh chóng nhận được những thông tin pháp lý mới nhất từ chúng tôi