
Mượn xe đi lại nhưng lại mang cầm cố là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu và vi phạm quy định pháp luật. Hành vi này sẽ phải chịu chế tài tài pháp luật tùy vào tính chất nguy hiểm và mức độ nghiêm trọng của hành vi.
1. Bạn mượn xe đi lại nhưng mang cầm cố có vi phạm?
Cầm cố tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được định nghĩa cụ thể tại Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015 như sau: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.”
Theo quy định này, chỉ có chủ sở hữu tài sản (hoặc những người được chủ sở hữu tài sản ủy quyền) mới có quyền xác lập giao dịch cầm cố thông qua việc giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố. Như vậy, người mượn xe đi lại không có quyền để cầm cố xe.
Do đó, hành vi mượn xe đi lại nhưng lại mang đi cầm cố là hành vi vi phạm quy định pháp luật và có dấu hiệu của thủ đoạn gian dối, không trung thực để chủ sở hữu xe tin tưởng và giao xe cho mình.
Tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng […]
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó […]”
Đối chiếu theo quy định này, hành vi mượn xe đi lại nhưng lại mang đi cầm cố có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong trường hợp chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi này có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP như sau:
“1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
[…]
c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
[…]”
2. Nhận cầm cố xe không chính chủ có vi phạm không?
Theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015 nêu trên, pháp luật chỉ công nhận quan hệ cầm cố khi mà chủ sở hữu (hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố. Theo đó, việc bên nhận cầm cố nhận cầm cố xe không chính chủ (mà không phải được chủ sở hữu ủy quyền) là hành vi trái quy định pháp luật.
Tại Điểm l Khoản 3 Điều 15 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định như sau:
“3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
[…]
l) Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản này.
[…]”
Ngoài ra, nếu ở mức độ nghiêm trọng, hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo hành vi cụ thể và ý chí của bên nhận cầm cố và bên cầm cố.
Lưu ý:
Văn bản pháp luật được áp dụng có hiệu lực ở thời điểm tư vấn, liên hệ với Công ty Luật TNHH Tháng Mười để được tư vấn miễn phí và sử dụng dịch vụ chuyên nghiệp - hiệu quả.
Quý khách hui lòng liên hệ: Điện thoại: (024) 66.558.661 - 0936.500.818 Hoặc gửi về địa chỉ email: congtyluatthang10@gmail.com
Sự hài lòng của bạn, là thành công của chúng tôi!
Bình luận: